Tin tức chung

Giải pháp đào tạo nhân lực CNTT cho Cách mạng công nghiệp 4.0

Giải pháp đào tạo nhân lực CNTT cho Cách mạng công nghiệp 4.0

Ngày 3-7, tại Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) phối hợp với Tập đoàn Aptech tổ chức hội thảo “Giải pháp đào tạo nhân lực CNTT cho Cách mạng công nghiệp 4.0”.

Microsoft Việt Nam sẵn sàng chia sẻ miễn phí những nền tảng sẵn có giúp đào tạo các giảng viên, sinh viên công nghệ.

Hội thảo có sự tham dự của lãnh đạo Bộ GD-ĐT, Đại sứ quán Ấn Độ tại Việt Nam, chuyên gia các tập đoàn công nghệ quốc tế hàng đầu như Microsoft, Oracle… và đại diện gần 40 trường đại học của Việt Nam, nhằm đóng góp các ý kiến, giải pháp để giúp Việt Nam chuẩn bị tốt nguồn nhân lực, phục vụ cho Cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0.

Ông Anuj Kacker – Chủ tịch Tập đoàn Aptech Toàn cầu chia sẻ, vài năm gần đây, CMCN 4.0 được nhắc đến nhiều ở Việt Nam. Tuy nhiên, những giải pháp chuẩn bị nhân lực cho CMCN 4.0 lại chưa được đề cập tương xứng với mức độ quan trọng của nó. Để thúc đẩy CMCN 4.0, điều kiện tiên quyết là cần có những giải pháp cụ thể về phát triển nhân lực. Hội thảo này mang tính thực tiễn cao, sẽ giúp Việt Nam không lỡ nhịp trong cuộc cách mạng của thời đại.

Nhiều ý kiến cho rằng, để hiện thực hóa và triển khai thành công CMCN 4.0, cần ưu tiên phát triển đội ngũ giảng viên đào tạo về các công nghệ 4.0 dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia quốc tế. Tuy nhiên, việc mời các chuyên gia quốc tế gặp nhiều khó khăn vì chính các nước phát triển cũng đang khan hiếm chuyên gia trong lĩnh vực này, đồng thời chi phí để mời chuyên gia về giảng dạy tại Việt Nam rất cao.

Ông Phạm Thế Trường – Tổng Giám đốc Microsoft Việt Nam chia sẻ, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của cuộc CMCN 4.0 là rất cấp bách. Microsoft Việt Nam sẵn sàng chia sẻ miễn phí những nền tảng sẵn có của mình để giúp Việt Nam đào tạo đội ngũ giảng viên cũng như sinh viên yêu thích công nghệ.

Trong khuôn khổ của hội thảo đã diễn ra Lễ ký hợp tác triển khai khóa đào tạo đội ngũ giảng viên công nghệ làm nền tảng chuẩn bị nguồn nhân lực giúp Việt Nam phát triển CMCN 4.0. Khóa đào tạo này do Bộ GD-ĐT phối hợp Aptech tổ chức với chuyên đề Artificial Intelligence và Machine Learning dành riêng cho các trường Đại học tại Việt Nam dưới sự hướng dẫn của chuyên gia công nghệ 4.0 quốc tế.

Ngành Thông tin và Truyền thông đi đầu trong hội nhập quốc tế

Ngành Thông tin và Truyền thông đi đầu trong hội nhập quốc tế

Trong giai đoạn hiện nay, xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông đòi hỏi ngành Thông tin và Truyền thông phải liên tục đổi mới, sáng tạo để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Để tiếp tục khẳng định và phát huy vai trò trong xu thế hội nhập, Ngành đã chủ động, tích cực đẩy mạnh hợp tác về thông tin và truyền thông với nhiều quốc gia trên thế giới.

Việt Nam, Campuchia tăng cường hợp tác kinh doanh viễn thông

Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Trương Minh Tuấn và Bộ trưởng Thông tin Campuchia Khieu Kanharith ký Thỏa thuận hợp tác giữa hai Bộ.
Hai Bộ trưởng chứng kiến lễ ký kết thỏa thuận hợp tác giữa Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia Việt Nam (NEAC) và đơn vị chức năng của Bộ BCVT Campuchia.

Việt Nam và Nga tiếp tục tăng cường mối quan hệ hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý và phát triển tài nguyên, an toàn và an ninh mạng Internet.

Thứ trưởng Bộ TTTT Phan Tâm chứng kiến Lễ ký kết giữa Giám đốc VNNIC Trần Minh Tân và ông Andrey Vorobyev, đại diện Trung tâm Điều phối tên miền cấp cao mã quốc gia Liên bang Nga

Ký kết biên bản hợp tác Việt Nam – Nhật Bản trong lĩnh vực thông tin và truyền thông

Thứ trưởng Bộ TTTT Nguyễn Minh Hồng và Thứ trưởng thường trực Bộ Nội vụ & Truyền thông Nhật Bản Jiro Akama ký Biên bản ghi nhớ hợp tác trong lĩnh vực bưu chính giữa hai Bộ
Ông Phạm Anh Tuấn, Tổng Giám đốc Vietnam Post, cùng ký kết hợp đồng kinh doanh với lãnh đạo Hitachi và Sumitomo Mitsui

LB

Khai trương Website “Hanoidep.vn”

Sáng 3/6, Ban Chỉ đạo Chương trình 04-CTr/TU của Thành ủy về “Phát triển văn hóa xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Thủ đô, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh” (Ban Chỉ đạo Chương trình 04) tổ chức lễ ra mắt website “Hanoidep.vn”. Tới dự có các đồng chí: Nguyễn Thị Bích Ngọc, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố Hà Nội, Trưởng ban Chỉ đạo Chương trình 04; Ngô Văn Quý, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội. 

Nhằm mục tiêu tuyên truyền sâu rộng Chương trình 04, xây dựng văn hóa người Hà Nội thanh lịch, văn minh, website “Hanoidep.vn” do Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phụ trách, gồm 5 chuyên mục chính là giới thiệu những nét đẹp, tinh hoa của Hà Nội, đồng thời phê phán những mặt chưa đẹp, những hạn chế, tồn tại làm ảnh hưởng đến đời sống văn hóa, cảnh quan đô thị Hà Nội. Tiêu biểu như các chuyên mục: “Tiêu điểm Hà Nội” phản ánh những nét đặc sắc, tạo nên diện mạo Hà Nội xưa và nay; “Người Hà Nội” giới thiệu những câu chuyện hay, xúc động về văn hóa ứng xử của người Hà Nội; “Trải nghiệm Hà Nội” quảng bá các hoạt động du lịch, tham quan trải nghiệm văn hóa, nghệ thuật, ẩm thực… Hà Nội; “Hà Nội đẹp, chưa đẹp” nêu những hiện tượng, việc làm tác động thiếu tích cực tới công cuộc xây dựng nếp sống văn hóa, người Hà Nội văn minh, thanh lịch. 

Bên cạnh 5 chuyên mục chính, website “Hanoidep.vn” sẽ tiếp tục xây dựng nội dung “Hà Nội – Thăng Long, theo dòng thời gian” theo mô típ một “Trung tâm lưu trữ lịch sử”, giúp bạn đọc tìm hiểu sâu rộng về đời sống, văn hóa và con người Thăng Long – Hà Nội theo dòng chảy của lịch sử từ kinh đô Thăng Long tới Thủ đô Hà Nội. Đặc biệt, website còn có một số chuyên mục thiết kế mở, tạo điều kiện cho bạn đọc tương tác với trang, đóng góp ý kiến xây dựng văn hóa con người Hà Nội một cách sinh động, hiệu quả. 

Lãnh đạo Sở Văn hóa và Thể thao cho biết thêm: Website “Hanoidep.vn” kết nối thông tin với Cổng thông tin của Sở, Fanpage của Sở và các website của các đơn vị trực thuộc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội. Thiết kế mỹ thuật của website được đánh giá trang nhã, thân thiện với người đọc. Website hướng tới đối tượng khá rộng, từ độ tuổi từ 16 trở lên với mọi thành phần người đọc trong nước và kiều bào nước ngoài.

Tại sự kiện, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố Hà Nội, Trưởng Ban Chỉ đạo chương trình 04 Nguyễn Thị Bích Ngọc; Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Ngô Văn Quý cùng một số đại biểu đã bấm nút khai trương, đưa Website “Hanoidep.vn” chính thức đi vào hoạt động.  

Quỳnh Anh

Hà Nội mong muốn hợp tác với các doanh nghiệp Đan Mạch trong xây dựng thành phố thông minh

Nhu cầu cuộc sống, công việc là “mảnh đất” để các startup dấn thân 

Sáng 10/6, tại Hà Nội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp cùng Bộ Khoa học và Công nghệ và Quỹ Đầu tư Golden Gate Ventures tổ chức Diễn đàn Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam 2019- Vietnam Ventures Summit 2019. 

Tham dự diễn đàn có các đồng chí: Vũ Đức Đam, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ; Nguyễn Chí Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Chu Ngọc Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; Nguyễn Đức Chung, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP Hà Nội. Cùng dự có đại diện hơn 100 quỹ đầu tư trong và ngoài nước, trong đó, có nhiều quỹ lớn trên thế giới như: Softbank Vision Fund, CyberAgent Ventures, Mekong Capital, 500 Startups Vietnam, DT&I, IDG Ventures Vietnam, VinaCapital Ventures,… cùng các đại diện các tập đoàn quốc tế như: Google, Visa, BCG Digital Ventures, One Championship, Lotte,…

Theo ban tổ chức, đây là lần đầu tiên Diễn đàn được tổ chức tại Việt Nam nhằm thu hút các nhà đầu tư, quảng bá Việt Nam là điểm đến tiềm năng của đầu tư khởi nghiệp sáng tạo. Quảng bá đến các Quỹ đầu tư lớn trên thế giới về môi trường kinh doanh Việt Nam, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Việt Nam và chia sẻ quan điểm phát triển của Chính phủ. Đồng thời, thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp thông qua kết nối các bên trong hệ sinh thái; chia sẻ kinh nghiệm của các doanh nghiệp khởi nghiệp khi đầu tư xuyên biên giới, khi mở rộng hoạt động ra khu vực, ra toàn cầu. Kết nối giữa các quỹ đầu tư của nước ngoài với cộng đồng các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Trong đó, kết nối chặt chẽ hơn Mạng lưới Đổi mới sáng tạo Việt Nam với hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo.

Sự kiện cũng là kênh đối thoại về những chính sách hỗ trợ, nhu cầu của cộng đồng khởi nghiệp, các Quỹ đầu tư trong các nhóm ngành khác nhau: công nghệ tài chính (fintech), công nghệ nền tảng (deeptech, ví dụ AI), thương mại điện tử… Từ đó, thúc đẩy các cơ chế trao đổi, hợp tác giữa Chính phủ với các Quỹ đầu tư trong tư vấn, tham mưu để xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam trên các khía cạnh: đào tạo nguồn nhân lực; nghiên cứu triển khai ứng dụng công nghệ…

Báo cáo thường niên về tình hình đầu tư khởi nghiệp năm 2018 của Topica Founder Institute cho thấy, trong năm 2018 các công ty khởi nghiệp Việt Nam đã nhận được 889 triệu USD đầu tư trong 92 thương vụ với các Quỹ đầu tư trong và ngoài nước, gấp 3 lần so với năm 2017 và gấp 6 lần năm 2016.

Hiện nay, hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam đang phát triển với hơn 40 quỹ đầu tư mạo hiểm hoạt động, tăng gấp đôi so với 2015. Nhiều tập đoàn lớn trong nước đã tham gia vào đầu tư mạo hiểm như FPT, Viettel, Vingroup, CMC, CenGroup … Cùng với đó là hơn 40 cơ sở ươm tạo, tổ chức thúc đẩy kinh doanh và 60 khu không gian làm việc chung trên cả nước.

Năm 2018, nhiều tập đoàn lớn tăng cường đầu tư cho hệ sinh thái khởi nghiệp. Tập đoàn Vinacapital đã thành lập Quỹ Đầu tư Vinacapital Ventures 100 triệu USD; Vingroup thành lập Quỹ Hỗ trợ khởi nghiệp và Quỹ Hỗ trợ nghiên cứu khoa học công nghệ có mức đầu tư 2.000 tỷ đồng, Quỹ Đầu tư mạo hiểm có mức 300 triệu USD để hỗ trợ các ý tưởng sáng tạo đột phá về công nghệ…

Phát biểu tại Diễn đàn, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam đánh giá cao việc Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì tổ chức sự kiện này và bày tỏ tin tưởng, sự kiện hôm nay sẽ đem lại bước phát triển mới cho cộng đồng start-up.

“Các số liệu 3 năm gần đây cho thấy lượng vốn mà các DN startup nhận được từ các quỹ đầu tư tăng rất nhanh. Năm 2016 so với năm 2015 tăng 49%. Năm 2017 so với năm 2016 tăng 42%. Năm 2018 so với năm 2017 tăng 205%. Và hy vọng năm 2019 chúng ta sẽ có bước tăng trưởng ấn tượng”, Phó Thủ tướng dẫn chứng.

Chia sẻ câu hỏi của đại diện nhiều quỹ đầu tư mạo hiểm về sự quan tâm đến Việt Nam, Phó Thủ tướng cho rằng đó là sự ổn định, hòa bình, tốc độ tăng trưởng cao liên tục. Tinh thần không ngừng đổi mới, sáng tạo để tạo ra cơ hội mới cho tất cả mọi người cùng sản xuất, kinh doanh, phát huy giá trị của mình. Từ các startup đến những DN, nhà đầu tư đều tìm thấy ở Việt Nam cơ hội kinh doanh, cơ hội hoàn thiện bản thân, cống hiến, lập nghiệp và đem lại những điều tốt đẹp cho cộng đồng, dân tộc, rộng hơn là cả thế giới.

Để duy trì được những lợi thế này, theo Phó Thủ tướng, trước hết phải tiếp tục cải thiện thật tốt môi trường kinh doanh, giữa các địa phương với nhau và giữa Việt Nam với các nước. Thứ hai là rất cần những bước đột phá mạnh mẽ trong phát triển công nghệ thông tin (CNTT) và những ngành kinh tế ứng dụng nhiều CNTT. Tương lai của nền kinh tế, cộng đồng DN, đặc biệt là các startup chủ yếu dựa trên ứng dụng mạnh mẽ CNTT. Thứ ba là tiếp tục chú ý tốt hơn đến giáo dục, khoa học-công nghệ, vốn là một trong những điểm thu hút các quỹ đầu tư mạo hiểm, startup công nghệ, bằng những điều kiện đảm bảo rất cụ thể, nhất là các chính sách về kinh tế.

Nêu thực tế đã có những hướng huy động vốn mới dành cho DN startup từ gây quỹ cộng đồng (crowding fun) hay các nhà đầu tư mua cổ phần, Phó Thủ tướng mong muốn các quỹ đầu tư mạo hiểm thực sự đổi mới, kết hợp chặt chẽ với các nhà đầu tư, có những thích nghi cần thiết để cùng đồng hành, cùng phát triển sản phẩm với các DN startup.

Với cộng đồng DN startup, Phó Thủ tướng nhấn mạnh nhu cầu cuộc sống, công việc chính là những cơ hội, là “mảnh đất” để các startup dấn thân. Đầu tiên là giải quyết nhu cầu của chính người dân trong nước nhưng mỗi startup không nên giới hạn mình ở trong nước. Phó Thủ tướng mong muốn cộng đồng startup ở Việt Nam tăng cường kết nối với nhau với sự hỗ trợ của Chính phủ. Làm sao để các startup khởi nghiệp ở Việt Nam thuận lợi nhất, không phải tìm cách ra nước ngoài để lập công ty vì những quy định pháp luật không đủ tốt. Bên cạnh đó, các startup rất cần sự hợp tác, “nâng đỡ” của những DN “đàn anh”.

Phó Thủ tướng tin tưởng các startup Việt Nam sẽ có bước phát triển mới, không dừng lại ở các phong trào, sự kiện mà đi vào các chính sách cụ thể, đóng góp cho sự phát triển kinh tế đất nước.

Nhóm PV

Hà Nội mong muốn hợp tác với các doanh nghiệp Đan Mạch trong xây dựng thành phố thông minh

Sáng 11/6, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung đã tiếp ngài Kim Hojlund Christensen, Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam, đến chào xã giao và trao đổi một số thông tin hợp tác tiềm năng giữa Đan Mạch và Hà Nội trong thời gian tới.

Cảm ơn sự tiếp đón trọng thị của Chủ tịch UBND Thành phố, Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam – ngài Hojlund Christensen khẳng định Việt Nam và Đan Mạch là hai quốc gia có mối quan hệ hữu nghị vô cùng tốt đẹp. Vào năm 2021, hai nước sẽ kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, do đó, Ngài Đại sứ mong muốn sẽ có nhiều sự kiện được tổ chức để chào mừng cột mốc đặc biệt này, bao gồm nhiều hoạt động trao đổi đoàn các cấp cũng như các sự kiện giao lưu văn hóa, hợp tác kinh tế khác. 

Chúc mừng ngài Hojlund Christensen đã được bổ nhiệm làm Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam, Chủ tịch UBND Thành phố Nguyễn Đức Chung nhấn mạnh, người dân Việt Nam luôn ghi nhớ và trân trọng những sự giúp đỡ chân thành của người dân Đan Mạch cả trong thời chiến cũng như những năm đầu khó khăn sau khi hòa bình lập lại. 

Tán thành và ủng hộ những đề xuất của ngài Đại sứ về các hoạt động kỷ niệm 50 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam – Đan Mạch trên địa bàn thành phố, Chủ tịch Nguyễn Đức Chung khẳng định sẽ tạo mọi điều kiện để các sự kiện này được tổ chức thành công. 

Thông tin tới ngài Đại sứ một số nét nổi bật về tình hình phát triển kinh tế – xã hội của Thủ đô, Chủ tịch UBND TP cho biết, thời gian qua, Thành phố đã có nhiều chuyển biến tích cực trong điều hành kinh tế vĩ mô, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và đẩy mạnh cải cách hành chính. Mở rộng liên kết, hợp tác phát triển kinh tế trong và ngoài nước, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế. Chỉ số cải cách hành chính năm 2018 tiếp tục giữ vững vị trí 2/63 tỉnh, thành. Chỉ số PCI năm 2018 tăng 4 bậc so với năm 2017, xếp thứ 9/63 – đứng trong top 10 địa phương có chất lượng điều hành xuất sắc nhất cả nước. Đặc biệt là thu hút đầu tư nước ngoài đạt kết quả ấn tượng, trong 3 năm, 2016-2018, FDI đạt khoảng 14,05 tỷ USD, bằng 66,63% so với tổng FDI giai đoạn 1986-2015; Riêng năm 2018, đạt 7,5 tỷ USD, quý I/2019 đạt 4,47 tỷ USD cao nhất cả nước.

Chủ tịch UBND TP Nguyễn Đức Chung cho biết, trong chương trình phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2016-2020, Hà Nội xác định 03 khâu đột phá: Cải cách hành chính, phát triển cơ sở hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực. Mục tiêu đến năm 2025, cơ bản triển khai ứng dụng CNTT để xây dựng thành phố thông minh. Trên cơ sở đó, Chủ tịch UBND TP bày tỏ mong muốn hai bên có thể nghiên cứu tìm kiếm cơ hội hợp tác trên nhiều lĩnh vực hơn nữa như thúc đẩy du lịch, phát triển xanh, xây dựng thành phố thông minh, đào tạo nhân lực chất lượng cao,… 

Chủ tịch UBND TP nhấn mạnh, Hà Nội rất coi trọng hợp tác với doanh nghiệp châu Âu, đặc biệt là các doanh nghiệp đến từ Đan Mạch để mua bán, chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực: Xây dựng thành phố thông minh, quản lý điện, lĩnh vực y tế,… Đồng thời, khẳng định, sẵn sàng tạo điều kiện cho các nhà đầu tư Đan Mạch tìm kiếm cơ hội đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh thuận lợi và thành công trên địa bàn Thành phố.

Chúc ngài Đại Sứ có nhiệm kỳ thành công tại Việt Nam, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Đức Chung mong muốn trên cương vị mới của mình, ngài Đại sứ sẽ giúp nâng mối quan hệ giữa hai nước, hai Thủ đô lên tầm cao mới. 

Lê Hải

Xây dựng đề án chuyển đổi số quốc gia: Tạo điều kiện phát triển mô hình kinh doanh mới

Xây dựng đề án chuyển đổi số quốc gia: Tạo điều kiện phát triển mô hình kinh doanh mới

Bộ Thông tin và Truyền thông đang lấy ý kiến đóng góp của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân về dự thảo đề án chuyển đổi số quốc gia trên Cổng thông tin của Bộ tại địa chỉ www.mic.gov.vn. Điểm đáng chú ý của dự thảo là lần đầu tiên cơ quan quản lý nhà nước đã nêu quan điểm về sự chấp nhận và tạo điều kiện cho phát triển mô hình kinh doanh mới.

Một buổi họp về dự thảo đề án chuyển đổi số quốc gia của Bộ Thông tin và Truyền thông.

Trong dự thảo đề án chuyển đổi số quốc gia (gọi tắt là dự thảo đề án), Bộ Thông tin và Truyền thông (TT-TT) nêu rõ, số hóa nền kinh tế là cuộc cách mạng chính sách, có thái độ tích cực về công nghệ và sáng tạo, chấp nhận những công nghệ mới và mô hình kinh doanh mới. Các cơ quan nhà nước có vai trò dẫn dắt, định hướng, có phương thức quản lý linh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho chuyển đổi số. Trong những trường hợp có những mô hình mới tích cực xuất hiện mà chưa đủ cơ sở, thời gian để xây dựng chính sách, pháp luật điều chỉnh, thì xem xét sử dụng cách tiếp cận sandbox (cho thử nghiệm mô hình kinh doanh mới trong một không gian, thời gian nhất định trước khi ban hành chính sách quản lý).


Cùng với đó, Bộ TT-TT nêu tầm nhìn đến năm 2030 thực hiện chuyển đổi bứt phá để hướng tới một Việt Nam số. Trong đó, tận dụng sự tiến bộ, sáng tạo của công nghệ số để phát triển kinh tế – xã hội ổn định, thịnh vượng và bền vững. Mục tiêu cụ thể của đề án đến năm 2025, Việt Nam thuộc tốp 4 ASEAN về xếp hạng số hóa quốc gia và các mục tiêu cụ thể để thực hiện chuyển đổi số trong nền tảng kinh tế – xã hội, cơ quan nhà nước, phát triển lực lượng lao động số, hạ tầng số.


Quan điểm này cũng được Bộ trưởng Bộ TT-TT Nguyễn Mạnh Hùng đề cập tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2019 (do Ban Kinh tế Trung ương tổ chức hồi đầu năm). Theo Bộ trưởng TT-TT, số hóa nền kinh tế là một cuộc cách mạng về chính sách nhiều hơn là một cuộc cách mạng về công nghệ. Đầu tiên, phải chấp nhận các mô hình kinh doanh mới, chấp nhận những công nghệ mới làm thay đổi căn bản các ngành, gọi là X-Tech (giải pháp công nghệ kết nối thông minh), như Fintech (ứng dụng công nghệ trong ngành Tài chính), EduTech (ứng dụng công nghệ trong ngành Giáo dục), AgriTech (ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp)… thường là sự sáng tạo mang tính phá hủy cái cũ. Chấp nhận cái mới thì công nghệ mới của thế giới sẽ về, người tài trên toàn cầu sẽ về và nền công nghiệp mới sẽ xuất hiện, cái nôi Việt Nam sẽ tạo ra các sản phẩm công nghệ số xuất khẩu được…


Về phía các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ, ông Nguyễn Hòa Bình, Tổng Giám đốc Nextech – doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại điện tử kiến nghị cơ quan quản lý nhà nước sớm áp dụng mô hình quản lý sandbox, nhất là với lĩnh vực trung gian thanh toán. Vì hiện nay, đang có tình trạng “bảo hộ ngược” khi một số trung gian thanh toán nước ngoài hoạt động không có giấy phép tại thị trường Việt Nam lại chưa bị quản lý. Trong khi đó, các trung gian thanh toán trong nước, muốn hoạt động phải trải qua quy trình cấp phép nghiêm ngặt của Ngân hàng Nhà nước. 


Còn ông Nguyễn Thế Tân, Tổng Giám đốc VCCorp mong muốn Chính phủ sớm tạo cơ chế sandbox cho doanh nghiệp triển khai thử nghiệm trong không gian, thời gian nhất định, rồi quản lý, nhằm mục tiêu đưa ra chính sách nhanh hơn, thông thoáng hơn để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. 

Với các tập đoàn lớn, theo ông Phạm Đức Long, Tổng Giám đốc Tập đoàn VNPT, VNPT đang bám sát đề án chuyển đổi số quốc gia để triển khai quá trình chuyển đổi số tại đơn vị. Hiện Tập đoàn VNPT đã đóng góp nhiều ý kiến với Chính phủ, với Bộ TT-TT trong quá trình xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, xây dựng nền kinh tế số tại Việt Nam. 


Ông Lê Đăng Dũng, Quyền Chủ tịch Tập đoàn Viettel kiến nghị, Chính phủ cần sớm ban hành chiến lược chuyển đổi số quốc gia, cụ thể là cần thiết ban hành các quy định pháp luật liên quan đến chia sẻ dữ liệu, thông tin… nhằm từng bước hoàn thiện thể chế thúc đẩy chuyển đổi số của Chính phủ, các tổ chức và doanh nghiệp.

                                                                                                                      Việt Nga

Bảo đảm an toàn, an ninh mạng

Bảo đảm an toàn, an ninh mạng

Việt Nam là một trong những quốc gia bị tấn công mạng với tỷ lệ cao. Để ứng phó, ngăn chặn nguy cơ này, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 14/2019/CT-TTg ngày 7-6-2019 về việc tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh mạng nhằm cải thiện chỉ số xếp hạng của Việt Nam. Các yêu cầu Chỉ thị đặt ra cho thấy tầm quan trọng của việc bảo đảm an toàn, an ninh thông tin phục vụ quá trình ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển Chính phủ điện tử để phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn.

Từ đầu năm 2019 đến nay, đã ghi nhận 639 cuộc tấn công mạng nhằm vào các hệ thống thông tin ở Việt Nam.

“Phần chìm” nhiều nguy hại


Theo đánh giá của Tập đoàn Công nghệ BKAV – doanh nghiệp số 1 trong lĩnh vực an ninh mạng của Việt Nam, năm 2018 đã ghi nhận nhiều sự kiện tấn công mạng vào các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dùng Việt Nam. Trong đó có tới 60% hệ thống mạng cơ quan, doanh nghiệp bị nhiễm mã độc đào tiền ảo, thiệt hại tới 14.900 tỷ đồng. 


Đánh giá của Liên minh Viễn thông quốc tế cũng cho thấy, chỉ số xếp về an toàn, an ninh thông tin của Việt Nam chưa cao… Ông Nguyễn Huy Dũng, Cục trưởng Cục An toàn thông tin cho rằng, đó chỉ là “phần nổi nhỏ của tảng băng”. Trên thực tế, “phần chìm” có những mối nguy hại đáng lo hơn nhiều. Đó là các mã độc tinh vi, ẩn sâu thuộc các chiến dịch tấn công có chủ đích. 

Các cuộc tấn công này được hậu thuẫn bởi nguồn tài chính dồi dào, trình độ cao, có nhiệm vụ xâm nhập sâu, lan rộng trong hệ thống mạng của các cơ quan Đảng, Nhà nước nhằm mục đích gián điệp, hoặc phá hoại. Có không ít cuộc tấn công mạng được hậu thuẫn bởi cơ quan đặc biệt của nước ngoài. Các cuộc tấn công dạng này mang tính dài hạn, thậm chí có chiến lược được tính bằng thập kỷ.

Vì vậy, từ năm 2018, Bộ Thông tin và Truyền thông (TT-TT) đã thành lập Trung tâm Giám sát an toàn không gian mạng quốc gia (do Cục An toàn thông tin quản lý), để thực hiện chức năng giám sát trung tâm, là đầu mối kỹ thuật về giám sát, hỗ trợ bảo đảm an toàn thông tin cho người dân, doanh nghiệp và các hệ thống thông tin của Đảng, Nhà nước theo quy định… 

Đến nay, trung tâm thường xuyên cập nhật về tình hình an toàn, an ninh mạng trong cả nước. Số liệu mới nhất của Cục An toàn thông tin từ đầu năm 2019 đến ngày 20-5 đã ghi nhận 639 cuộc tấn công mạng nhằm vào các hệ thống thông tin ở Việt Nam (gồm tấn công web lừa đảo, thay đổi giao diện và phát tán mã độc); có 857.927 địa chỉ IP (giao thức trên internet) Việt Nam nằm trong các “mạng máy tính ma” – giảm 37% so với tháng cùng kỳ. 

Nhận thấy đây là mô hình hoạt động hiệu quả, trung tuần tháng 5 vừa qua, Sở TT-TT tỉnh Thái Bình đã khai trương Trung tâm Điều hành an ninh mạng (SOC) do Tập đoàn Công nghệ BKAV xây dựng và phát triển. 

Trung tâm Điều hành SOC được kỳ vọng giúp nhanh chóng phát hiện mọi dấu hiệu tấn công vào hệ thống mạng, chủ động ứng phó, từ đó giảm các thiệt hại. Đây được xem như mô hình kiểu mẫu đầu tiên về bảo đảm an ninh mạng cấp địa phương trên toàn quốc. Tại cuộc họp giao ban quản lý nhà nước đầu tháng 6 vừa qua, Bộ trưởng Bộ TT-TT Nguyễn Mạnh Hùng cũng đã đề xuất một số tỉnh nên hình thành trung tâm giám sát an toàn không gian mạng.

Tạo lập thị trường an ninh mạng

Theo ông Nguyễn Huy Dũng, Bộ TT-TT đã đưa ra cảnh báo, nhiều cơ quan, tổ chức ở Việt Nam sử dụng các giải pháp đắt tiền của các hãng bảo mật trên thế giới, nhưng vẫn là nạn nhân của các cuộc tấn công mạng. Mặc dù đã mua giải pháp của các hãng rất nhiều, nhưng chính các hãng này liên tục công bố Việt Nam bị mất an toàn thông tin ở mức cao. 

Trong khi đó, thực tế có một nguyên tắc, trong phần cứng, phần mềm của nước ngoài có thể lưu “cửa hậu”. Vì vậy, Bộ TT-TT chủ trương kêu gọi các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam sử dụng sản phẩm an ninh mạng của Việt Nam không chỉ góp phần giúp doanh nghiệp Việt phát triển, mà việc sử dụng các sản phẩm của người Việt có thể phát hiện ra tấn công có chủ đích – điều mà các sản phẩm nước ngoài không phát hiện được.

Điều này cũng đã được Bộ trưởng Bộ TT-TT Nguyễn Mạnh Hùng nhiều lần nhấn mạnh, để đưa Việt Nam trở thành cường quốc về an ninh mạng thì trước hết phải tạo ra được một thị trường an ninh mạng tại Việt Nam.

Trung tâm Điều hành an ninh mạng (SOC) tỉnh Thái Bình. Ảnh: Mạnh Hưng


Quan điểm phải tạo ra thị trường an ninh mạng cũng đã được Thủ tướng chỉ ra trong Chỉ thị số 14/2019/CT-TTg về việc tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh mạng nhằm cải thiện chỉ số xếp hạng của Việt Nam. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ nêu rõ, ưu tiên sử dụng sản phẩm, giải pháp, dịch vụ của doanh nghiệp trong nước đáp ứng yêu cầu về an toàn, an ninh mạng theo quy định của pháp luật… 


Để triển khai yêu cầu này, theo Cục trưởng Cục An toàn thông tin Nguyễn Huy Dũng, Bộ TT-TT thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, mở rộng thị trường bằng hành động cụ thể. Từ tháng 4-2019, Bộ đã công bố danh mục gồm 2 sản phẩm (của BKAV và Viettel) về phòng, chống phần mềm độc hại đáp ứng yêu cầu kỹ thuật theo Chỉ thị số 14/2018/CT-TTg (ngày 25-5-2018) của Thủ tướng Chính phủ về việc nâng cao năng lực phòng, chống phần mềm độc hại.

Bên cạnh đó, Bộ cũng sẽ tiếp tục công bố danh mục sản phẩm phòng, chống phần mềm độc hại đáp ứng yêu cầu kỹ thuật trong thời gian tới, giúp các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước sử dụng. 


Ở góc độ doanh nghiệp, ông Ngô Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Tập đoàn Công nghệ BKAV cho biết, cơ quan quản lý xây dựng cơ chế tạo ra thị trường lành mạnh để các doanh nghiệp an ninh mạng trong nước cạnh tranh bình đẳng với nhau, với doanh nghiệp nước ngoài là rất cần thiết. Khi có thị trường rồi, các doanh nghiệp sẽ có cơ hội phát triển nguồn nhân lực dồi dào hơn để bảo đảm an ninh mạng cho quốc gia, góp phần tăng thứ hạng của Việt Nam trên thế giới…


Với sự sẵn sàng của cơ quan quản lý nhà nước là Bộ TT-TT, cộng với nội lực của các doanh nghiệp bảo mật trong nước và sự nêu cao nhận thức của những người đứng đầu tại các cơ quan đơn vị là cơ sở quan trọng để Việt Nam cải thiện chỉ số xếp hạng an toàn, an ninh mạng.

                                                                                                                      Việt Nga

Các tỉnh cũng cần thành phố thông minh và trung tâm giám sát không gian mạng

Các tỉnh cũng cần thành phố thông minh và trung tâm giám sát không gian mạng

Theo Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng, mỗi tỉnh lớn nên có một trung tâm báo chí. Với các tỉnh nhỏ, cũng cần hình thành nên các trung tâm giám sát an toàn không gian mạng.

TP.HCM vừa chính thức đưa vào hoạt động mô hình Trung tâm báo chí của thành phố. Đây cũng là trung tâm chức năng đầu tiên trên cả nước thực hiện việc cung cấp dịch vụ liên quan đến các hoạt động báo chí tại địa phương.

Trung tâm báo chí TP.HCM sẽ là đầu mối kết nối giữa lãnh đạo thành phố và các cơ quan chức năng để cung cấp thông tin một cách nhanh chóng, chính xác về các hoạt động của TP.HCM trên mọi lĩnh vực. Điều này nhằm tạo điều kiện phục vụ tốt nhất, thuận lợi nhất cho các cơ quan báo chí của Trung ương, các báo địa phương và đại diện các cơ quan báo chí quốc tế thường trú trên địa bàn TP.HCM.

  Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng trong buổi chia sẻ với lãnh đạo các Sở TT&TT. Ảnh: Trọng Đạt

Mới đây, chia sẻ cùng lãnh đạo 63 Sở TT&TT trên cả nước, Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng, mỗi một tỉnh, đặc biệt là các tỉnh lớn nên có một trung tâm báo chí theo mô hình của TP.HCM.

Với các tỉnh nhỏ, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng đưa ra đề xuất về việc hình thành nên các trung tâm giám sát an toàn không gian mạng. Cục An toàn thông tin (ATTT) sẽ là nơi được giao nhiệm vụ tạo ra các mô hình không gian mạng mini để làm kiểu mẫu cho các địa phương.

Với mô hình trung tâm giám sát an toàn không gian mạng, trước đó, Thái Bình đã là địa phương đầu tiên triển khai thành công mô hình kiểu mẫu về Trung tâm điều hành an toàn, an ninh mạng (SOC) tại Việt Nam.

Trung tâm điều hành an toàn, an ninh thông tin tỉnh Thái Bình. Ảnh: Trọng Đạt
Trung tâm điều hành an toàn, an ninh thông tin tỉnh Thái Bình. Ảnh: Trọng Đạt

Nhiệm vụ của Trung tâm điều hành an toàn, an ninh mạng là giúp các cơ quan tổ chức theo dõi, giám sát những nguy cơ, rủi ro 24/7, từ đó phát hiện sớm các lỗ hổng, các cuộc tấn công để chủ động ứng phó. Trung tâm điều hành an ninh mạng của tỉnh Thái Bình chính là mô hình kiểu mẫu về việc đảm bảo an toàn an ninh thông tin tại các địa phương.

Việc hình thành nên các mô hình trung tâm báo chí hay trung tâm giám sát an toàn không gian mạng giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của Sở, đồng thời hiện thực hoá việc biến những đơn vị này trở thành cánh tay nối dài của Bộ TT&TT tại các địa phương.

Bộ TT&TT sẽ hỗ trợ Sở TT&TT các tỉnh về việc hướng dẫn xây dựng phần mềm dùng cho trung tâm giám sát an toàn không gian mạng mini. Đối với các công cụ phần cứng, Sở TT&TT tại các địa phương có thể tìm cách triển khai theo mô hình xã hội hoá.

Các tỉnh cần làm gì để xây dựng thành phố thông minh?

Trong buổi trò chuyện với các Sở TT&TT, Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng cũng đã đề xuất một cách tiếp cận mới đối với việc triển khai thành phố thông minh.

Thành phố thông minh là một khái niệm mới và không có thiết kế tường minh. Do vậy, với những tỉnh có các vấn đề nóng về giao thông, trật tự an toàn xã hội, ô nhiễm môi trường, Sở TT&TT có thể tư vấn cho lãnh đạo tỉnh việc triển khai hệ thống camera giám sát như một giải pháp để phục vụ cho công tác quản lý tại các địa phương.

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng trong buổi lắng nghe các ý kiến đóng góp và đề xuất từ các Sở TT&TT tại 63 tỉnh thành địa phương. Ảnh: Trọng Đạt

Điều này có thể được thực hiện với sự chung tay của các doanh nghiệp. Các Sở nên đề nghị doanh nghiệp tự tiến hành thử nghiệm trong một phạm vi nhỏ. Chỉ khi nào việc thử nghiệm cho kết quả tốt và hiệu quả, lúc ấy Sở TT&TT mới nên đề xuất với lãnh đạo tỉnh về vấn đề đầu tư. Cách làm này có thể giúp địa phương tránh được những tốn kém do đầu tư không hiệu quả.

Với chính quyền điện tử, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng yêu cầu các Sở TT&TT phải xoáy vào trọng tâm là cung cấp các dịch vụ công cấp độ 3 cấp độ 4, mà cơ bản là cấp độ 4.

Theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, thay vì các kế hoạch cao siêu, Sở TT&TT cần phải giúp lãnh đạo tỉnh nhìn thấy giá trị của việc xây dựng thành phố thông minh thông qua chính các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến.

Đối với việc xây dựng hạ tầng ICT và truyền thông tại các địa phương, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng, từng tỉnh phải có kế hoạch hằng năm về việc phát triển hạ tầng. Sau đó, Sở TT&TT có thể thuyết phục doanh nghiệp đầu tư để đạt mục tiêu của mình, trước khi buộc phải sử dụng đến nguồn lực ngân sách từ quỹ viễn thông công ích.

Bộ TT&TT cũng giao nhiệm vụ cho các Sở TT&TT phải giúp TCT Bưu điện Việt Nam trong việc hình thành nên mã bưu chính. Bên cạnh đó, các Sở cũng cần triển khai mạnh hệ thống cầu truyền hình đến tận cấp xã, đặc biệt là các tỉnh miền núi và tìm cách nâng mật độ sử dụng smartphone tại các địa phương.

 Trọng Đạt

Khai trương Hệ thống thông tin điện tử tuyên giáo VCNET

Khai trương Hệ thống thông tin điện tử tuyên giáo VCNET

Ngày 11/6, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương đã tổ chức Lễ khai trương Hệ thống thông tin điện tử tuyên giáo (VCNET). 

Các đồng chí lãnh đạo khai trương Hệ thống thông tin điện tử tuyên giáo (VCNET).

Tới dự Lễ khai trương Hệ thống VCNET có các đồng chí: Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Võ Văn Phuông, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương; Bùi Trường Giang, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; Nguyễn Thanh Long, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; Nguyễn Thành Hưng, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông; Thiếu tướng Lê Đăng Dũng, Quyền Chủ tịch, Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel; đại diện các bộ, ban, ngành liên quan.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Thanh Long nhấn mạnh, đáp ứng nhu cầu mới trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hiệu lực, hiệu quả và nắm bắt dư luận nhanh nhạy, lan tỏa, kịp thời định hướng dư luận xã hội, tạo bước đột phá đối với công tác tuyên giáo, Hệ thống thông tin điện tử tuyên giáo được Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp cùng Viettel xây dựng và triển khai hệ thống với phương châm “Tuyên giáo đi trước, đi cùng”, “Hướng mạnh về cơ sở”. Việc cung cấp các thông tin chính xác, kịp thời đặc biệt trong việc phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng của Đảng hơn bao giờ hết đang trở lên cấp thiết trong bối cảnh hiện nay khi: bùng nổ thông tin, thông tin không được kiểm chứng, thông tin xấu, độc lan tràn làm ảnh hưởng đến tư tưởng, nhận thức của mỗi đảng viên và mỗi người dân.

Việc đi vào hoạt động của Hệ thống thông tin điện tử tuyên giáo sẽ đáp ứng yêu cầu của ngành tuyên giáo trong ứng dụng công nghệ để đổi mới công tác điều hành tác nghiệp, tăng cường tính tương tác của ngành tuyên giáo và cộng đồng. 

“Với ý tưởng kết nối toàn bộ ngành tuyên giáo, tăng cường kết nối ngành tuyên giáo với đảng viên và người dân, Hệ thống được đặt tên là VCNET. VCNET trước hết là hệ thống thông tin điện tử Tuyên giáo, giúp quản lý điều hành tác nghiệp toàn bộ công tác của ngành Tuyên giáo toàn quốc, chuyển từ giấy sang điện tử, cụ thể là số hóa toàn bộ tài liệu, tin học hóa hầu hết công việc hàng ngày từ những việc nhỏ nhất giúp tiết kiệm thời gian, kinh phí tăng hiệu quả công việc trong việc điều hành.

VCNET đổi mới cách thức mà ngành Tuyên giáo thông tin, tương tác với cộng đồng, thông qua một mạng xã hội của cộng đồng Việt Nam. Đảng viên và trước hết là cán bộ tuyên giáo trên toàn quốc được xác định là hạt nhân, là những tấm gương đi đầu. Chúng tôi xác định, thông tin tuyên giáo muốn truyền đạt tới người dân hiệu quả, thì trước hết trong nội bộ ngành tuyên giáo, giữa các đảng viên trên toàn quốc phải hiệu quả, hình thức tương tác phải phong phú, mới mẻ và hấp dẫn. Vì vậy, VCNET phát huy và sẽ phát huy hơn nữa những ưu điểm của một mạng xã hội, giúp cho việc lan toả các thông tin nhanh nhất, kịp thời nhất.

Đồng chí Nguyễn Thanh Long: VCNET phát huy hơn nữa những ưu điểm của một mạng xã hội, giúp cho việc lan toả các thông tin nhanh nhất, kịp thời nhất.

Hệ thống thông tin điện tử tuyên giáo sẽ kết nối với các nguồn dữ liệu chính thống, phong phú của Đảng giúp cho mỗi người dùng tra cứu các thông tin và hơn nữa VCNET ứng dụng những công nghệ mới trong tra cứu dữ liệu như Chatbot, AI…” – Đồng chí Nguyễn Thanh Long nêu.

Thiếu tướng Lê Đăng Dũng, Quyền Chủ tịch, Tổng giám đốc Tập đoàn Viettel hi vọng hệ thống VCNET khi được áp dụng vào thực tế sẽ tạo sự thay đổi trong công tác tuyên giáo, nhanh chóng số hóa được 100% văn bản, tạo môi trường làm việc liên thông, hiện đại và chuyên nghiệp, tiết kiệm. Thiếu tướng Lê Đăng Dũng nêu rõ với vị thế là doanh nghiệp Công nghiệp- Viễn thông, Viettel cam kết luôn đồng hành cùng Ban Tuyên giáo Trung ương tiếp tục hoàn thiện hệ thống, triển khai nhanh và hiệu quả.

Tại buổi lễ, Ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị hệ thống truyền thông, các cơ quan báo chí, đơn vị, đảng viên và người dân tham gia sử dụng Hệ thống thông tin điện tử tuyên giáo. Đảng viên và trước hết là cán bộ tuyên giáo trên toàn quốc sẽ là hạt nhân, những tấm gương đi đầu về cải cách./. 

Thu Hằng

Truyền thông xã hội đối với ổn định chính trị, xã hội ở Việt Nam

Truyền thông xã hội đối với ổn định chính trị, xã hội ở Việt Nam

Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đã có bài viết “Truyền thông xã hội đối với ổn định chính trị, xã hội ở Việt Nam”. TTXVN xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết:

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng. Ảnh: TTXVN

1. Cuối năm 2018, khởi lên từ đoạn video của một nghệ sĩ accordion thể hiện sự bất mãn về chính sách thuế được đưa lên mạng xã hội, những cuộc biểu tình mang tên “Phong trào áo Vàng” đã gây khủng hoảng triền miên trong suốt thời gian qua ở Pháp. Phong trào lan nhanh bởi những lời kêu gọi phát tán trên mạng xã hội đã thổi bùng cơn giận dữ, vượt xa mục tiêu ban đầu là kích động biểu tình để phản đối chính sách, trở thành bạo loạn. 

Nhìn lại các cuộc “cách mạng màu” hay các cuộc biểu tình bạo động mang hơi hướng của “cách mạng màu” được hiện đại hóa trong mấy thập niên gần đây, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, chính truyền thông xã hội đã châm ngòi, thổi bùng bằng kích động, tổ chức và thông tin, khiến ban đầu là các phong trào đường phố, đi đến bạo động và hệ quả là sự suy yếu nhanh chóng của các chế độ như ở Đông Âu, Trung Đông, Bắc Phi, Mỹ Latinh. Truyền thông xã hội, tin giả đã trở thành từ khóa làm nhiều người liên tưởng tới những cuộc xuống đường bạo động khiến cả châu Âu và thế giới đứng ngồi không yên suốt thời gian qua. Ngay tại Mỹ, sau những cuộc biểu tình chiếm phố Wall (năm 2011), giới chính trị gia đã chỉ trích đích danh Facebook, Twitter là “công cụ của bạo loạn”. Báo chí phương Tây cũng đúc rút phương thức dùng truyền thông xã hội tạo nên những “đám đông” kích động, đó là: châm ngòi xuống đường; triệt để lợi dụng các sự cố, tai nạn, những cái chết để tạo cớ bạo loạn; sử dụng điện thoại di động, mạng xã hội để kích động và liên kết trong, ngoài.

Truyền thông xã hội là một “dòng chảy thông tin” trên nền tảng, dịch vụ công nghệ cho phép người dùng tạo ra, chia sẻ, trao đổi, thảo luận và thay đổi các nội dung, thiết lập thành các mạng lưới liên kết và tương tác xã hội. Truyền thông xã hội, nhất là mạng xã hội liên tục được nâng đỡ, hỗ trợ bởi những công nghệ mới, ngày càng tiện ích hơn, trở thành kênh quan trọng, thúc đẩy quá trình giao tiếp và kết nối xã hội. Các thuật toán cho phép các nền tảng truyền thông xã hội thiết lập các cộng đồng hoạt động dưới nhiều hình thức khác nhau (diễn đàn, nhóm, hội công khai, hoặc bí mật…) có thể thu hút từ hàng nghìn lên đến hàng triệu thành viên, không giới hạn về địa lý, thành phần xã hội. Sự tiếp cận đến từng cá nhân người dùng với tốc độ nhanh tạo ra nhiều cơ hội và lợi ích về truyền tải, tiếp nhận, chia sẻ, thông tin, tri thức; phục vụ các nhu cầu đa dạng của cộng đồng như: kết bạn, giải trí, kinh doanh, bày tỏ quan điểm, phản biện xã hội, lan tỏa những điều tốt đẹp… Đồng thời, cũng từ các nền tảng truyền thông xã hội bộc lộ những tác động tiêu cực, ẩn chứa những nguy cơ phức tạp, khó lường, thậm chí có khả năng gây chia rẽ sâu sắc, kích động hận thù trong các cộng đồng xã hội, nhất là ở các quốc gia đa sắc tộc, tôn giáo.

Yuval Noah Harari không hề phóng đại nỗi lo lắng toàn cầu khi cho rằng, Internet, mạng xã hội “là một vùng đất tự do và vô luật làm xói mòn chủ quyền quốc gia, phớt lờ các biên giới, phá hủy quyền riêng tư và đem lại mối đe dọa an ninh toàn cầu có thể nói là đáng sợ nhất” . Với những tác động nhiều chiều, có thể xem không gian mạng như “miền chiến sự thứ năm”, ở đó, truyền thông xã hội đóng vai trò là một thứ “quyền lực”, vượt mặt truyền thông chính thống, thách thức các biện pháp quản lý hành chính và kỹ thuật của tất cả các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển. Nguồn thu lớn từ truyền thông xã hội vẫn đang đổ về quốc gia phát triển có trình độ công nghệ cao, những dữ liệu cá nhân đang ở trong tay số ít các đại gia công nghệ nước ngoài khiến kinh tế, luật pháp, an ninh, chủ quyền đều bị đe dọa. Có người ví Facebook như một “quốc gia” lớn và chắc chắn có thông tin về các “công dân” của nó nhiều hơn bất kỳ chính phủ nào. Khi “dữ liệu trên mạng” là tài nguyên, thông tin là quyền lực, thì chúng ta có cơ sở để lo lắng rằng người nắm quyền “sở hữu thông tin” sẽ “tạo ra nhiều nguy cơ mới, đồng thời khuếch đại những nguy cơ khác” . Vụ bê bối dữ liệu do Cambridge Analytica, công ty phân tích dữ liệu chính trị tiếp cận trái phép và “đầu độc thông tin chính trị” tới 87 triệu người dùng là bài học đắt giá làm cho câu hỏi: “Làm thế nào để quản lý được quyền sở hữu thông tin?” trở thành “câu hỏi mang tính chính trị quan trọng nhất trong kỷ nguyên của chúng ta”. 

Trước những thách thức hiện hữu và nguy cơ tiềm ẩn đòi hỏi phải tư duy lại về mô hình và cách thức quản trị không gian mạng, các quốc gia đang ráo riết thiết lập những hàng rào bảo vệ bằng việc đưa ra những biện pháp cứng rắn. Bởi lẽ, “Quyền quyết sách đối với những vấn đề chính sách công liên quan tới mạng Internet là chủ quyền của các nước”. Đức đã thông qua luật về quản lý mạng xã hội (NetzDG), theo đó, những dịch vụ mạng xã hội nếu để xảy ra tình trạng người dùng lăng mạ, gây thù oán hay phát tán các tin tức giả mạo sẽ đối mặt với án phạt nặng có thể lên tới 50 triệu Euro. Australia tuyên bố sẽ phạt các công ty cung cấp dịch vụ mạng và các trang mạng xã hội, có thể phạt tới 10% tổng thu nhập hàng năm, thậm chí phạt tù lên tới 3 năm đối với người điều hành nếu không loại bỏ hoàn toàn các nội dung xấu. Luật chống tin giả của Ai Cập cho phép cơ quan chức năng quyền giám sát các tài khoản cá nhân trên những mạng xã hội có trên 5.000 người theo dõi. Luật An ninh mạng của Thái Lan quy định đối tượng phát tán tin giả sẽ phải chịu 7 năm tù. Philippines mới đây cũng ban hành luật quy định hoạt động truyền bá thông tin giả mạo bị coi là tội phạm hình sự, bị phạt tới 6 tháng tù, kèm khoản tiền phạt hơn 3.000 USD. Còn Singapore, vừa thông qua Dự luật Bảo vệ khỏi sự thao túng và lừa dối trực tuyến. Người lan truyền tin giả với dụng ý xấu, gây tổn hại nghiêm trọng lợi ích cộng đồng có thể đối mặt với bản án 10 năm tù, các công ty mạng xã hội nếu không tuân thủ các quy định có thể bị phạt lên đến 1 triệu đô la Singapore … 

2. Trong bối cảnh bất ổn gia tăng ở nhiều nơi trên thế giới, sự ổn định chính trị, xã hội của Việt Nam là một lợi thế quan trọng để phát triển. Nhờ nhất quán quan điểm: “Ổn định và phát triển gắn liền với nhau trong quá trình vận động, tiến lên, ổn định để phát triển và có phát triển mới ổn định được” mà môi trường chính trị, xã hội ổn định, an ninh, an toàn được giữ vững, nội lực đất nước được khơi dậy và phát huy, ngoại lực được tiếp nhận và sử dụng hiệu quả, nên sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư, của du khách, là điểm hẹn của khát vọng hòa bình thế giới. 

Ổn định chính trị, xã hội dựa vào những nhân tố bên trong và bên ngoài. Trong đó, nhân tố cốt lõi là “yên dân”, là đoàn kết và đồng thuận, là niềm tin xã hội. Trong quá trình dựng nước, giữ nước, các bậc minh quân luôn coi “yên dân” là “kế sâu rễ bền gốc”, “gốc có vững thì cây mới yên”, thế nước mới vững bền. Thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng cho thấy, “dân là gốc” là tư tưởng dẫn dắt, chi phối đường lối, chủ trương, chính sách, hoạt động của Đảng và Nhà nước; là một trong những bài học kinh nghiệm lớn trong lãnh đạo của Đảng. Không ngừng chăm lo, nâng cao đời sống nhân dân, vun đắp cho mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và dân, củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng là nền tảng cho sự ổn định chính trị, xã hội của nước ta trong thời gian qua. Tuy vậy, việc “yên dân” hay lòng dân, niềm tin, đồng thuận xã hội lại luôn bị thử thách, biến động không ngừng trong dòng chảy của thế sự, thời cuộc và các va đập của lịch sử. Năm nay thế này, năm sau có thể thế khác với rất nhiều yếu tố, tầng nấc đan xen tác động. Trong đó, báo chí, truyền thông nói chung, truyền thông xã hội nói riêng có vai trò rất quan trọng. 

Biểu tượng YouTube. Ảnh: AFP/TTXVN

Sau hơn 20 năm Internet có mặt (từ năm 1997), với hơn 60 triệu người sử dụng, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 18 trên thế giới về tỷ lệ người dân sử dụng Internet và là 1 trong 10 nước có lượng người dùng Facebook và YouTube cao nhất thế giới. Điều đó cho thấy sự cởi mở, năng động của Việt Nam trong tiến trình hội nhập cùng thế giới số. 

Cũng như các quốc gia khác trên toàn cầu, Việt Nam đang khai thác và phát huy những đặc tính ưu việt của truyền thông xã hội, đồng thời, cũng đang phải đối mặt với những tác động tiêu cực khó kiểm soát từ dạng thức truyền thông mới này.  Có thể nhận thấy, “hệ sinh thái” mạng xã hội đã hình thành tầng lớp KOLs (Key Opinion Leader), influencers là những người có “thương hiệu” hoặc là “người bình thường” mà thông tin, quan điểm nêu ra có sức thu hút, ảnh hưởng, được “cư dân mạng” chia sẻ, khuếch tán nhanh trên phạm vi rộng. Họ đa phần là những chủ thể tích cực góp phần tạo nên đời sống thông tin lành mạnh. Nhưng, cũng đã lộ diện những KOLs, influencers có động cơ không trong sáng, nền tảng văn hóa thấp, bất mãn chế độ, thậm chí từng vi phạm pháp luật nhưng lại biết “khơi gợi những cảm xúc xấu xa”; lạm dụng chữ nghĩa, ảo tưởng “quyền lực bàn phím”, luôn tìm cách điều hướng dư luận; tấn công doanh nghiệp nhằm trục lợi; đe dọa, xúc phạm cá nhân, tổ chức… Một số được nuôi dưỡng, cấp phát từ các tổ chức thù địch bên ngoài. Lợi dụng những bất cập trong quản lý nhà nước về Internet, mạng xã hội, chúng thâm nhập vào các nền tảng truyền thông xã hội, “nuôi” nick (tên tài khoản), lập ra hàng trăm nghìn tài khoản ảo và nhiều trang giả mạo cá nhân, tổ chức. Với nhiều thủ đoạn tinh vi được hỗ trợ bởi công nghệ, chúng tập trung chống phá nền tảng tư tưởng, phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, gieo rắc tư tưởng cực đoan, tạo bất đồng, xung đột trong nội bộ Đảng và nhân dân. Chúng cường điệu những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý để khoét sâu vào xung đột lợi ích, làm chia rẽ xã hội, suy giảm lòng tin, thực hiện “diễn biến hòa bình”, đòi lật đổ chế độ. Từ đó, lôi kéo, tập hợp lực lượng, kích động biểu tình trái phép, chống đối, bạo loạn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự xã hội như trong các vụ lợi dụng vấn đề môi trường tại Formosa Hà Tĩnh, phản đối Dự Luật về Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt, Luật An ninh mạng…

Có hiện tượng KOLs, influencers được hỗ trợ “không trong sáng” từ những thông tin mật trong nội bộ các cơ quan Đảng, Nhà nước bị rò rỉ, không loại trừ có cả những cái “bắt tay với âm binh” vô cùng nguy hiểm của những cán bộ suy thoái, cơ hội chính trị, đầy tham vọng cá nhân. Việc các chính trị gia sử dụng truyền thông xã hội làm công cụ để giao tiếp với công chúng, xây dựng hình ảnh hay vận động chính trị không phải là mới mẻ trên thế giới và có thể khuyến khích ở Việt Nam nhưng cần phải được xác lập thành một trong những nguyên tắc hành xử chính trị công khai và minh bạch. Còn việc “đi đêm” với các nhân tố mạng xã hội để tạo “sóng” trong dư luận, vì ý đồ và động cơ cá nhân là điều không thể chấp nhận. 

Sự lệch lạc trong nhận thức về các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội sẽ dẫn đến sai lầm trong hành vi, tạo nên những mối nguy về an ninh, bất ổn chính trị, xã hội. Một bộ phận người sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam thường có xu hướng quan tâm, thích (like) và chia sẻ (share) thông tin giật gân, tiêu cực, trái chiều hơn thông tin tích cực, một cách cố tình hoặc vô ý thức, bất chấp các hậu quả. Nhiều người cho rằng mạng xã hội là ảo, không phải chịu trách nhiệm về những phát ngôn, hành xử của mình. Tâm lý đó cộng hưởng với các công cụ được tạo ra để thu hút người dùng của truyền thông xã hội, cùng với sự bất cập, hạn chế trong quản lý của các cơ quan chức năng càng làm cho việc phát tán thông tin xấu, độc trở nên dễ dàng và nguy hiểm. 

Những nghiên cứu gần đây chỉ ra, hiện tượng tin giả, các phát ngôn thù ghét, nói xấu, phỉ báng, vu khống, bịa đặt, kỳ thị dân tộc, tôn giáo, kỳ thị giới tính, các hành vi gây hấn, tấn công trên mạng,… đang trở nên đáng báo động (11). Những hành vi lệch lạc này có thể làm khủng hoảng đời sống của cá nhân, tổ chức, gây nặng nề và trầm cảm xã hội, thậm chí những “cơn bão mạng” có thể “khai tử” doanh nghiệp, có cá nhân đã lựa chọn cái chết làm lối thoát. 

Tác động xấu từ truyền thông xã hội có thể dẫn đến những hậu quả trực tiếp, tức thì, nhưng cũng có những hậu quả len lỏi, lâu dài tích tụ vào ứng xử, lối sống, dần dần phá vỡ những hệ giá trị văn hóa và đạo đức tốt đẹp. Những đổ vỡ về giá trị, những tổn thương về tâm lý ảnh hưởng đến đời sống mỗi cá nhân, từ đó, tác động đến ổn định chính trị, xã hội của quốc gia. Các nhà xã hội học cho rằng, việc dành quá nhiều thời gian cho mạng dẫn đến “cô lập với xã hội thực tại”, “xao nhãng các quan hệ đời thực”, “tin vào đó mà không dành thời gian cho các quan sát, trải nghiệm và tương tác thực tế để đưa ra các quyết định đúng đắn”, thậm chí lệch lạc về nhận thức, dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt với giới trẻ. Về lâu dài, có thể khiến sự cố kết xã hội bị rạn nứt sâu sắc, gây phân rã, khó tạo nên sự đồng thuận trong việc chung tay giải quyết các vấn đề của cộng đồng, quốc gia hay nhân loại (12).

3. Có những ý kiến về việc mạng xã hội đã qua đi thời khắc đỉnh cao và đang chững lại. Có những đánh giá lạc quan rằng người dùng mạng xã hội đang dần trở nên sáng suốt hơn, bình tĩnh hơn, trang bị bộ lọc tốt hơn, có nhiều kinh nghiệm hơn sau khi bị tin giả lừa đảo nhiều lần. Nhưng trong thực tế, có thể khẳng định, truyền thông xã hội là một “mặt trận” ngày càng phức tạp, mở rộng mà các thế lực thù địch đang lợi dụng để thúc đẩy các “yếu tố cách mạng sắc màu ở Việt Nam”. Bài học từ những cuộc “cách mạng màu” cho thấy không thể chủ quan, lơ là mà cần phải chủ động nhận diện, ngăn chặn kịp thời những nhân tố lợi dụng truyền thông xã hội để tác động đến ổn định chính trị, xã hội từ nhiều hướng, nhiều cách thức khác nhau. Yêu cầu ấy đòi hỏi phải nhìn nhận đúng về truyền thông xã hội ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực, nhận diện và quản lý những tác nhân gây ảnh hưởng để bảo vệ, phát huy những giá trị tiến bộ được xã hội thừa nhận, đồng thời hạn chế, đẩy lùi, triệt phá những tác động tiêu cực bằng những giải pháp mạnh mẽ, đồng bộ và hiệu quả.

Một là, trong lãnh đạo, chỉ đạo cần tiếp tục quán triệt, nhận thức đúng, đầy đủ quan điểm: “không ngừng đổi mới tư duy lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý báo chí điện tử, mạng xã hội và các loại hình truyền thông khác trên Internet theo kịp sự phát triển của công nghệ Internet,… chủ động, kiên trì thúc đẩy phát triển đúng hướng đi đôi với quản lý chặt chẽ” (13). Xác định rõ, đây là môi trường mở, độc đáo, đặc biệt quan trọng nằm bên cạnh dòng chảy thông tin của truyền thông truyền thống cần được khai thác tối đa mặt tích cực, cổ vũ những giá trị tiến bộ, định hướng và tiến hành đấu tranh đối với những nhận thức, tư tưởng, quan điểm sai trái. Do đó, phải chủ động đánh giá, dự báo chính xác tình hình; chú trọng giải quyết thấu đáo các vấn đề bức xúc của người dân; khắc phục hiệu quả những hạn chế, bất cập, không để hình thành “điểm nóng”, những xu hướng (trend) tiêu cực trên mạng xã hội. Các cơ quan chức năng cần cung cấp thông tin cho báo chí một cách đầy đủ, công khai, minh bạch, kịp thời, nhất là với các vấn đề quan trọng được người dân quan tâm, không để cho các thế lực thù địch lợi dụng, chiếm lĩnh truyền thông xã hội. Đồng thời, giữ nghiêm kỷ luật thông tin, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm khắc với các phần tử cơ hội chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cố tình làm lộ lọt, cung cấp thông tin nội bộ, hỗ trợ cho các phần tử mạng xã hội đưa tin sai sự thật, kích động, tấn công vào nội bộ.  

Hai là, khẩn trương thể chế hóa, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý trong thực tiễn; tích cực xây dựng khung khổ pháp luật khoa học, tiến bộ để truyền thông xã hội hoạt động, phát triển lành mạnh, đúng hướng. Thời gian qua, những thay đổi chóng mặt về thuật toán của các nền tảng công nghệ “làm khó” cả về nhận thức và hành động khiến các cơ quan chức năng vốn đã chậm trễ, hạn chế trong quản lý không gian mạng lại càng lúng túng, bất cập, chưa theo kịp trong việc hoạch định chính sách, pháp luật đối với truyền thông xã hội. Để quản lý tốt, cần nhanh chóng tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật với các điều khoản cụ thể, rõ ràng, sát thực, phù hợp, theo kịp tốc độ biến động của truyền thông xã hội… thay vì chỉ dừng ở quy tắc điều chỉnh mang tính khuyến nghị đạo đức và văn hóa. Bởi lẽ, khi các ràng buộc pháp lý không cụ thể, rõ ràng và đủ mạnh thì các quy tắc đạo đức, văn hóa cũng rất khó để đi vào cuộc sống. 

Kiên trì vấn đề có tính nguyên tắc là các nhà mạng, nhà cung cấp dịch vụ, khai thác dịch vụ nhất là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xuyên biên giới phải có trách nhiệm tuân thủ luật pháp Việt Nam, tôn trọng chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia Việt Nam. Yêu cầu các đối tác phải thể hiện sự hợp tác, tuân thủ các quy định khi vào Việt Nam như đặt cơ quan đại diện, thiết lập tính chính danh của người dùng trong đăng ký tài khoản, phối hợp tích cực để kịp thời bóc gỡ những trang mạo danh các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, xóa bỏ triệt để các tài khoản đưa thông tin sai sự thật,… Cần coi trọng hơn các biện pháp kinh tế, yêu cầu trách nhiệm của những doanh nghiệp phải tương xứng với lợi ích mà họ được hưởng. Tích cực triển khai thực hiện Luật An ninh mạng với các chế tài đủ mạnh để răn đe, xử lý những hành vi vi phạm, gây hại như lưu trữ, cung cấp, đăng tải, phát tán tin giả, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, nói xấu, kích động, chống phá Đảng, Nhà nước trên Internet, mạng xã hội…

Ba là, phát huy vai trò chủ động, tiên phong, dẫn dắt, định hướng của báo chí trong thông tin tích cực. Báo chí cách mạng cần khẳng định hơn nữa vai trò, vị thế của mình trong thời đại kỹ thuật số. Dòng thông tin tích cực của báo chí vẫn phải là dòng thông tin chủ lưu với thông tin chất lượng, chính xác, kịp thời, khách quan, là bộ lọc đáng tin cậy về mọi vấn đề xã hội, dư luận quan tâm. Vì vậy, phải khẩn trương tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Luật Báo chí năm 2016, sửa đổi bổ sung, hoàn chỉnh Luật cũng như các văn bản dưới Luật để hoàn thiện hơn nữa môi trường pháp lý cho hoạt động báo chí. Xác định rõ tiêu chí đối với từng loại hình thông tin điện tử nhất là báo điện tử, tạp chí điện tử, trang thông tin điện tử tổng hợp, mạng xã hội; có quy định để điều chỉnh hoạt động của các công ty công nghệ chuyên cung cấp thông tin báo chí. Tăng cường trách nhiệm của cơ quan chủ quản, của cơ quan báo chí trong thực hiện tôn chỉ, mục đích và nội dung thông tin, trong hợp tác hoạt động báo chí, trong đầu tư nền tảng công nghệ số cho sự phát triển vươn tầm của báo chí. Thực hiện ngay quy hoạch báo chí đã được phê duyệt trong năm 2019, rà soát cấp phép lại hoặc thu hồi giấy phép hoạt động đối với các tổ chức, cơ quan trong thời gian qua đã buông lỏng quản lý, có nhiều vi phạm trong hoạt động báo chí. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng những người làm báo về bản lĩnh chính trị, về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, công nghệ, trau dồi đạo đức, ý thức về sứ mệnh nghề nghiệp, thực hiện tốt quy định về trách nhiệm và chuẩn mực khi tham gia mạng xã hội. 

Bốn là, thúc đẩy các giải pháp công nghệ, các biện pháp kỹ thuật phù hợp bắt kịp với sự phát triển của Internet, mạng xã hội. Khuyến khích mạng xã hội có nền tảng công nghệ trong nước phát triển, khuyến khích các cơ quan, tổ chức trong nước xây dựng mạng xã hội nội bộ. Tăng cường ứng dụng công nghệ để phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các thông tin sai sự thật, xấu, độc có ảnh hưởng đến ổn định chính trị, xã hội. Nâng cao năng lực phân tích, điều tra, nghiên cứu công chúng, đo lường thái độ của người sử dụng Internet, tham gia truyền thông xã hội đối với những vấn đề được dư luận quan tâm. 

Năm là, truyền thông xã hội khác biệt vì nội dung do người dùng tạo ra và thông tin mang tính cá nhân hóa cao, do đó, sự quản lý của Nhà nước là cần thiết nhưng quan trọng nhất vẫn là ý thức người dùng. Việc người dùng nâng cao sức “đề kháng”, trang bị hiểu biết về pháp luật, bộ lọc văn hóa tốt, ứng xử văn minh, lịch lãm trong tranh luận, phản biện, có năng lực về tin tức, đánh giá được độ tin cậy của thông tin trên truyền thông xã hội là rất quan trọng. Có như vậy, việc khai thác, sử dụng mạng xã hội mới hiệu quả, thiết thực và lành mạnh, người dùng mới có thể bảo vệ những giá trị của bản thân, của cộng đồng và dân tộc. 

Cho nên, cần chú trọng tăng cường các biện pháp tuyên truyền nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức, trách nhiệm khi tham gia các nền tảng truyền thông xã hội của mọi công dân. Giáo dục định hướng giá trị để người trẻ biết tránh khỏi các biểu hiện lệch lạc về nhận thức và hành vi; trang bị cho học sinh, sinh viên kỹ năng tự bảo vệ thông tin cá nhân, cách thức chắt lọc, tiếp nhận thông tin. 

Phát huy vai trò của các tổ chức và cá nhân, nhất là những người điều hành website, blog, fanpage, các KOLs, influencers, người trẻ trong xây dựng môi trường Internet, mạng xã hội lành mạnh. Mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên tham gia mạng xã hội phải giữ vai trò là lực lượng nòng cốt đăng tải, chia sẻ, lan tỏa thông tin tích cực và xem đây là giải pháp thường xuyên, lâu dài. 

Việt Nam đang là một quốc gia có chính trị, xã hội ổn định và trên đà phát triển, tuy nhiên, cũng vẫn tiềm ẩn những nguy cơ gây mất ổn định. Tạo lập môi trường thông tin lành mạnh, an toàn, trong đó, truyền thông xã hội là một trong những nguồn lực thông tin quan trọng, sẽ góp phần tích cực, hiệu quả, bảo vệ, gìn giữ môi trường chính trị, xã hội ổn định làm nền tảng cho đất nước phát triển bền vững.

TTXVN/Báo Tin tức