Tin tức chung

Truyền thông xã hội đối với ổn định chính trị, xã hội ở Việt Nam

Truyền thông xã hội đối với ổn định chính trị, xã hội ở Việt Nam

Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đã có bài viết “Truyền thông xã hội đối với ổn định chính trị, xã hội ở Việt Nam”. TTXVN xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết:

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng. Ảnh: TTXVN

1. Cuối năm 2018, khởi lên từ đoạn video của một nghệ sĩ accordion thể hiện sự bất mãn về chính sách thuế được đưa lên mạng xã hội, những cuộc biểu tình mang tên “Phong trào áo Vàng” đã gây khủng hoảng triền miên trong suốt thời gian qua ở Pháp. Phong trào lan nhanh bởi những lời kêu gọi phát tán trên mạng xã hội đã thổi bùng cơn giận dữ, vượt xa mục tiêu ban đầu là kích động biểu tình để phản đối chính sách, trở thành bạo loạn. 

Nhìn lại các cuộc “cách mạng màu” hay các cuộc biểu tình bạo động mang hơi hướng của “cách mạng màu” được hiện đại hóa trong mấy thập niên gần đây, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, chính truyền thông xã hội đã châm ngòi, thổi bùng bằng kích động, tổ chức và thông tin, khiến ban đầu là các phong trào đường phố, đi đến bạo động và hệ quả là sự suy yếu nhanh chóng của các chế độ như ở Đông Âu, Trung Đông, Bắc Phi, Mỹ Latinh. Truyền thông xã hội, tin giả đã trở thành từ khóa làm nhiều người liên tưởng tới những cuộc xuống đường bạo động khiến cả châu Âu và thế giới đứng ngồi không yên suốt thời gian qua. Ngay tại Mỹ, sau những cuộc biểu tình chiếm phố Wall (năm 2011), giới chính trị gia đã chỉ trích đích danh Facebook, Twitter là “công cụ của bạo loạn”. Báo chí phương Tây cũng đúc rút phương thức dùng truyền thông xã hội tạo nên những “đám đông” kích động, đó là: châm ngòi xuống đường; triệt để lợi dụng các sự cố, tai nạn, những cái chết để tạo cớ bạo loạn; sử dụng điện thoại di động, mạng xã hội để kích động và liên kết trong, ngoài.

Truyền thông xã hội là một “dòng chảy thông tin” trên nền tảng, dịch vụ công nghệ cho phép người dùng tạo ra, chia sẻ, trao đổi, thảo luận và thay đổi các nội dung, thiết lập thành các mạng lưới liên kết và tương tác xã hội. Truyền thông xã hội, nhất là mạng xã hội liên tục được nâng đỡ, hỗ trợ bởi những công nghệ mới, ngày càng tiện ích hơn, trở thành kênh quan trọng, thúc đẩy quá trình giao tiếp và kết nối xã hội. Các thuật toán cho phép các nền tảng truyền thông xã hội thiết lập các cộng đồng hoạt động dưới nhiều hình thức khác nhau (diễn đàn, nhóm, hội công khai, hoặc bí mật…) có thể thu hút từ hàng nghìn lên đến hàng triệu thành viên, không giới hạn về địa lý, thành phần xã hội. Sự tiếp cận đến từng cá nhân người dùng với tốc độ nhanh tạo ra nhiều cơ hội và lợi ích về truyền tải, tiếp nhận, chia sẻ, thông tin, tri thức; phục vụ các nhu cầu đa dạng của cộng đồng như: kết bạn, giải trí, kinh doanh, bày tỏ quan điểm, phản biện xã hội, lan tỏa những điều tốt đẹp… Đồng thời, cũng từ các nền tảng truyền thông xã hội bộc lộ những tác động tiêu cực, ẩn chứa những nguy cơ phức tạp, khó lường, thậm chí có khả năng gây chia rẽ sâu sắc, kích động hận thù trong các cộng đồng xã hội, nhất là ở các quốc gia đa sắc tộc, tôn giáo.

Yuval Noah Harari không hề phóng đại nỗi lo lắng toàn cầu khi cho rằng, Internet, mạng xã hội “là một vùng đất tự do và vô luật làm xói mòn chủ quyền quốc gia, phớt lờ các biên giới, phá hủy quyền riêng tư và đem lại mối đe dọa an ninh toàn cầu có thể nói là đáng sợ nhất” . Với những tác động nhiều chiều, có thể xem không gian mạng như “miền chiến sự thứ năm”, ở đó, truyền thông xã hội đóng vai trò là một thứ “quyền lực”, vượt mặt truyền thông chính thống, thách thức các biện pháp quản lý hành chính và kỹ thuật của tất cả các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển. Nguồn thu lớn từ truyền thông xã hội vẫn đang đổ về quốc gia phát triển có trình độ công nghệ cao, những dữ liệu cá nhân đang ở trong tay số ít các đại gia công nghệ nước ngoài khiến kinh tế, luật pháp, an ninh, chủ quyền đều bị đe dọa. Có người ví Facebook như một “quốc gia” lớn và chắc chắn có thông tin về các “công dân” của nó nhiều hơn bất kỳ chính phủ nào. Khi “dữ liệu trên mạng” là tài nguyên, thông tin là quyền lực, thì chúng ta có cơ sở để lo lắng rằng người nắm quyền “sở hữu thông tin” sẽ “tạo ra nhiều nguy cơ mới, đồng thời khuếch đại những nguy cơ khác” . Vụ bê bối dữ liệu do Cambridge Analytica, công ty phân tích dữ liệu chính trị tiếp cận trái phép và “đầu độc thông tin chính trị” tới 87 triệu người dùng là bài học đắt giá làm cho câu hỏi: “Làm thế nào để quản lý được quyền sở hữu thông tin?” trở thành “câu hỏi mang tính chính trị quan trọng nhất trong kỷ nguyên của chúng ta”. 

Trước những thách thức hiện hữu và nguy cơ tiềm ẩn đòi hỏi phải tư duy lại về mô hình và cách thức quản trị không gian mạng, các quốc gia đang ráo riết thiết lập những hàng rào bảo vệ bằng việc đưa ra những biện pháp cứng rắn. Bởi lẽ, “Quyền quyết sách đối với những vấn đề chính sách công liên quan tới mạng Internet là chủ quyền của các nước”. Đức đã thông qua luật về quản lý mạng xã hội (NetzDG), theo đó, những dịch vụ mạng xã hội nếu để xảy ra tình trạng người dùng lăng mạ, gây thù oán hay phát tán các tin tức giả mạo sẽ đối mặt với án phạt nặng có thể lên tới 50 triệu Euro. Australia tuyên bố sẽ phạt các công ty cung cấp dịch vụ mạng và các trang mạng xã hội, có thể phạt tới 10% tổng thu nhập hàng năm, thậm chí phạt tù lên tới 3 năm đối với người điều hành nếu không loại bỏ hoàn toàn các nội dung xấu. Luật chống tin giả của Ai Cập cho phép cơ quan chức năng quyền giám sát các tài khoản cá nhân trên những mạng xã hội có trên 5.000 người theo dõi. Luật An ninh mạng của Thái Lan quy định đối tượng phát tán tin giả sẽ phải chịu 7 năm tù. Philippines mới đây cũng ban hành luật quy định hoạt động truyền bá thông tin giả mạo bị coi là tội phạm hình sự, bị phạt tới 6 tháng tù, kèm khoản tiền phạt hơn 3.000 USD. Còn Singapore, vừa thông qua Dự luật Bảo vệ khỏi sự thao túng và lừa dối trực tuyến. Người lan truyền tin giả với dụng ý xấu, gây tổn hại nghiêm trọng lợi ích cộng đồng có thể đối mặt với bản án 10 năm tù, các công ty mạng xã hội nếu không tuân thủ các quy định có thể bị phạt lên đến 1 triệu đô la Singapore … 

2. Trong bối cảnh bất ổn gia tăng ở nhiều nơi trên thế giới, sự ổn định chính trị, xã hội của Việt Nam là một lợi thế quan trọng để phát triển. Nhờ nhất quán quan điểm: “Ổn định và phát triển gắn liền với nhau trong quá trình vận động, tiến lên, ổn định để phát triển và có phát triển mới ổn định được” mà môi trường chính trị, xã hội ổn định, an ninh, an toàn được giữ vững, nội lực đất nước được khơi dậy và phát huy, ngoại lực được tiếp nhận và sử dụng hiệu quả, nên sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư, của du khách, là điểm hẹn của khát vọng hòa bình thế giới. 

Ổn định chính trị, xã hội dựa vào những nhân tố bên trong và bên ngoài. Trong đó, nhân tố cốt lõi là “yên dân”, là đoàn kết và đồng thuận, là niềm tin xã hội. Trong quá trình dựng nước, giữ nước, các bậc minh quân luôn coi “yên dân” là “kế sâu rễ bền gốc”, “gốc có vững thì cây mới yên”, thế nước mới vững bền. Thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng cho thấy, “dân là gốc” là tư tưởng dẫn dắt, chi phối đường lối, chủ trương, chính sách, hoạt động của Đảng và Nhà nước; là một trong những bài học kinh nghiệm lớn trong lãnh đạo của Đảng. Không ngừng chăm lo, nâng cao đời sống nhân dân, vun đắp cho mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và dân, củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng là nền tảng cho sự ổn định chính trị, xã hội của nước ta trong thời gian qua. Tuy vậy, việc “yên dân” hay lòng dân, niềm tin, đồng thuận xã hội lại luôn bị thử thách, biến động không ngừng trong dòng chảy của thế sự, thời cuộc và các va đập của lịch sử. Năm nay thế này, năm sau có thể thế khác với rất nhiều yếu tố, tầng nấc đan xen tác động. Trong đó, báo chí, truyền thông nói chung, truyền thông xã hội nói riêng có vai trò rất quan trọng. 

Biểu tượng YouTube. Ảnh: AFP/TTXVN

Sau hơn 20 năm Internet có mặt (từ năm 1997), với hơn 60 triệu người sử dụng, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 18 trên thế giới về tỷ lệ người dân sử dụng Internet và là 1 trong 10 nước có lượng người dùng Facebook và YouTube cao nhất thế giới. Điều đó cho thấy sự cởi mở, năng động của Việt Nam trong tiến trình hội nhập cùng thế giới số. 

Cũng như các quốc gia khác trên toàn cầu, Việt Nam đang khai thác và phát huy những đặc tính ưu việt của truyền thông xã hội, đồng thời, cũng đang phải đối mặt với những tác động tiêu cực khó kiểm soát từ dạng thức truyền thông mới này.  Có thể nhận thấy, “hệ sinh thái” mạng xã hội đã hình thành tầng lớp KOLs (Key Opinion Leader), influencers là những người có “thương hiệu” hoặc là “người bình thường” mà thông tin, quan điểm nêu ra có sức thu hút, ảnh hưởng, được “cư dân mạng” chia sẻ, khuếch tán nhanh trên phạm vi rộng. Họ đa phần là những chủ thể tích cực góp phần tạo nên đời sống thông tin lành mạnh. Nhưng, cũng đã lộ diện những KOLs, influencers có động cơ không trong sáng, nền tảng văn hóa thấp, bất mãn chế độ, thậm chí từng vi phạm pháp luật nhưng lại biết “khơi gợi những cảm xúc xấu xa”; lạm dụng chữ nghĩa, ảo tưởng “quyền lực bàn phím”, luôn tìm cách điều hướng dư luận; tấn công doanh nghiệp nhằm trục lợi; đe dọa, xúc phạm cá nhân, tổ chức… Một số được nuôi dưỡng, cấp phát từ các tổ chức thù địch bên ngoài. Lợi dụng những bất cập trong quản lý nhà nước về Internet, mạng xã hội, chúng thâm nhập vào các nền tảng truyền thông xã hội, “nuôi” nick (tên tài khoản), lập ra hàng trăm nghìn tài khoản ảo và nhiều trang giả mạo cá nhân, tổ chức. Với nhiều thủ đoạn tinh vi được hỗ trợ bởi công nghệ, chúng tập trung chống phá nền tảng tư tưởng, phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, gieo rắc tư tưởng cực đoan, tạo bất đồng, xung đột trong nội bộ Đảng và nhân dân. Chúng cường điệu những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý để khoét sâu vào xung đột lợi ích, làm chia rẽ xã hội, suy giảm lòng tin, thực hiện “diễn biến hòa bình”, đòi lật đổ chế độ. Từ đó, lôi kéo, tập hợp lực lượng, kích động biểu tình trái phép, chống đối, bạo loạn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự xã hội như trong các vụ lợi dụng vấn đề môi trường tại Formosa Hà Tĩnh, phản đối Dự Luật về Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt, Luật An ninh mạng…

Có hiện tượng KOLs, influencers được hỗ trợ “không trong sáng” từ những thông tin mật trong nội bộ các cơ quan Đảng, Nhà nước bị rò rỉ, không loại trừ có cả những cái “bắt tay với âm binh” vô cùng nguy hiểm của những cán bộ suy thoái, cơ hội chính trị, đầy tham vọng cá nhân. Việc các chính trị gia sử dụng truyền thông xã hội làm công cụ để giao tiếp với công chúng, xây dựng hình ảnh hay vận động chính trị không phải là mới mẻ trên thế giới và có thể khuyến khích ở Việt Nam nhưng cần phải được xác lập thành một trong những nguyên tắc hành xử chính trị công khai và minh bạch. Còn việc “đi đêm” với các nhân tố mạng xã hội để tạo “sóng” trong dư luận, vì ý đồ và động cơ cá nhân là điều không thể chấp nhận. 

Sự lệch lạc trong nhận thức về các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội sẽ dẫn đến sai lầm trong hành vi, tạo nên những mối nguy về an ninh, bất ổn chính trị, xã hội. Một bộ phận người sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam thường có xu hướng quan tâm, thích (like) và chia sẻ (share) thông tin giật gân, tiêu cực, trái chiều hơn thông tin tích cực, một cách cố tình hoặc vô ý thức, bất chấp các hậu quả. Nhiều người cho rằng mạng xã hội là ảo, không phải chịu trách nhiệm về những phát ngôn, hành xử của mình. Tâm lý đó cộng hưởng với các công cụ được tạo ra để thu hút người dùng của truyền thông xã hội, cùng với sự bất cập, hạn chế trong quản lý của các cơ quan chức năng càng làm cho việc phát tán thông tin xấu, độc trở nên dễ dàng và nguy hiểm. 

Những nghiên cứu gần đây chỉ ra, hiện tượng tin giả, các phát ngôn thù ghét, nói xấu, phỉ báng, vu khống, bịa đặt, kỳ thị dân tộc, tôn giáo, kỳ thị giới tính, các hành vi gây hấn, tấn công trên mạng,… đang trở nên đáng báo động (11). Những hành vi lệch lạc này có thể làm khủng hoảng đời sống của cá nhân, tổ chức, gây nặng nề và trầm cảm xã hội, thậm chí những “cơn bão mạng” có thể “khai tử” doanh nghiệp, có cá nhân đã lựa chọn cái chết làm lối thoát. 

Tác động xấu từ truyền thông xã hội có thể dẫn đến những hậu quả trực tiếp, tức thì, nhưng cũng có những hậu quả len lỏi, lâu dài tích tụ vào ứng xử, lối sống, dần dần phá vỡ những hệ giá trị văn hóa và đạo đức tốt đẹp. Những đổ vỡ về giá trị, những tổn thương về tâm lý ảnh hưởng đến đời sống mỗi cá nhân, từ đó, tác động đến ổn định chính trị, xã hội của quốc gia. Các nhà xã hội học cho rằng, việc dành quá nhiều thời gian cho mạng dẫn đến “cô lập với xã hội thực tại”, “xao nhãng các quan hệ đời thực”, “tin vào đó mà không dành thời gian cho các quan sát, trải nghiệm và tương tác thực tế để đưa ra các quyết định đúng đắn”, thậm chí lệch lạc về nhận thức, dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt với giới trẻ. Về lâu dài, có thể khiến sự cố kết xã hội bị rạn nứt sâu sắc, gây phân rã, khó tạo nên sự đồng thuận trong việc chung tay giải quyết các vấn đề của cộng đồng, quốc gia hay nhân loại (12).

3. Có những ý kiến về việc mạng xã hội đã qua đi thời khắc đỉnh cao và đang chững lại. Có những đánh giá lạc quan rằng người dùng mạng xã hội đang dần trở nên sáng suốt hơn, bình tĩnh hơn, trang bị bộ lọc tốt hơn, có nhiều kinh nghiệm hơn sau khi bị tin giả lừa đảo nhiều lần. Nhưng trong thực tế, có thể khẳng định, truyền thông xã hội là một “mặt trận” ngày càng phức tạp, mở rộng mà các thế lực thù địch đang lợi dụng để thúc đẩy các “yếu tố cách mạng sắc màu ở Việt Nam”. Bài học từ những cuộc “cách mạng màu” cho thấy không thể chủ quan, lơ là mà cần phải chủ động nhận diện, ngăn chặn kịp thời những nhân tố lợi dụng truyền thông xã hội để tác động đến ổn định chính trị, xã hội từ nhiều hướng, nhiều cách thức khác nhau. Yêu cầu ấy đòi hỏi phải nhìn nhận đúng về truyền thông xã hội ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực, nhận diện và quản lý những tác nhân gây ảnh hưởng để bảo vệ, phát huy những giá trị tiến bộ được xã hội thừa nhận, đồng thời hạn chế, đẩy lùi, triệt phá những tác động tiêu cực bằng những giải pháp mạnh mẽ, đồng bộ và hiệu quả.

Một là, trong lãnh đạo, chỉ đạo cần tiếp tục quán triệt, nhận thức đúng, đầy đủ quan điểm: “không ngừng đổi mới tư duy lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý báo chí điện tử, mạng xã hội và các loại hình truyền thông khác trên Internet theo kịp sự phát triển của công nghệ Internet,… chủ động, kiên trì thúc đẩy phát triển đúng hướng đi đôi với quản lý chặt chẽ” (13). Xác định rõ, đây là môi trường mở, độc đáo, đặc biệt quan trọng nằm bên cạnh dòng chảy thông tin của truyền thông truyền thống cần được khai thác tối đa mặt tích cực, cổ vũ những giá trị tiến bộ, định hướng và tiến hành đấu tranh đối với những nhận thức, tư tưởng, quan điểm sai trái. Do đó, phải chủ động đánh giá, dự báo chính xác tình hình; chú trọng giải quyết thấu đáo các vấn đề bức xúc của người dân; khắc phục hiệu quả những hạn chế, bất cập, không để hình thành “điểm nóng”, những xu hướng (trend) tiêu cực trên mạng xã hội. Các cơ quan chức năng cần cung cấp thông tin cho báo chí một cách đầy đủ, công khai, minh bạch, kịp thời, nhất là với các vấn đề quan trọng được người dân quan tâm, không để cho các thế lực thù địch lợi dụng, chiếm lĩnh truyền thông xã hội. Đồng thời, giữ nghiêm kỷ luật thông tin, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm khắc với các phần tử cơ hội chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cố tình làm lộ lọt, cung cấp thông tin nội bộ, hỗ trợ cho các phần tử mạng xã hội đưa tin sai sự thật, kích động, tấn công vào nội bộ.  

Hai là, khẩn trương thể chế hóa, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý trong thực tiễn; tích cực xây dựng khung khổ pháp luật khoa học, tiến bộ để truyền thông xã hội hoạt động, phát triển lành mạnh, đúng hướng. Thời gian qua, những thay đổi chóng mặt về thuật toán của các nền tảng công nghệ “làm khó” cả về nhận thức và hành động khiến các cơ quan chức năng vốn đã chậm trễ, hạn chế trong quản lý không gian mạng lại càng lúng túng, bất cập, chưa theo kịp trong việc hoạch định chính sách, pháp luật đối với truyền thông xã hội. Để quản lý tốt, cần nhanh chóng tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật với các điều khoản cụ thể, rõ ràng, sát thực, phù hợp, theo kịp tốc độ biến động của truyền thông xã hội… thay vì chỉ dừng ở quy tắc điều chỉnh mang tính khuyến nghị đạo đức và văn hóa. Bởi lẽ, khi các ràng buộc pháp lý không cụ thể, rõ ràng và đủ mạnh thì các quy tắc đạo đức, văn hóa cũng rất khó để đi vào cuộc sống. 

Kiên trì vấn đề có tính nguyên tắc là các nhà mạng, nhà cung cấp dịch vụ, khai thác dịch vụ nhất là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xuyên biên giới phải có trách nhiệm tuân thủ luật pháp Việt Nam, tôn trọng chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia Việt Nam. Yêu cầu các đối tác phải thể hiện sự hợp tác, tuân thủ các quy định khi vào Việt Nam như đặt cơ quan đại diện, thiết lập tính chính danh của người dùng trong đăng ký tài khoản, phối hợp tích cực để kịp thời bóc gỡ những trang mạo danh các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, xóa bỏ triệt để các tài khoản đưa thông tin sai sự thật,… Cần coi trọng hơn các biện pháp kinh tế, yêu cầu trách nhiệm của những doanh nghiệp phải tương xứng với lợi ích mà họ được hưởng. Tích cực triển khai thực hiện Luật An ninh mạng với các chế tài đủ mạnh để răn đe, xử lý những hành vi vi phạm, gây hại như lưu trữ, cung cấp, đăng tải, phát tán tin giả, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, nói xấu, kích động, chống phá Đảng, Nhà nước trên Internet, mạng xã hội…

Ba là, phát huy vai trò chủ động, tiên phong, dẫn dắt, định hướng của báo chí trong thông tin tích cực. Báo chí cách mạng cần khẳng định hơn nữa vai trò, vị thế của mình trong thời đại kỹ thuật số. Dòng thông tin tích cực của báo chí vẫn phải là dòng thông tin chủ lưu với thông tin chất lượng, chính xác, kịp thời, khách quan, là bộ lọc đáng tin cậy về mọi vấn đề xã hội, dư luận quan tâm. Vì vậy, phải khẩn trương tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Luật Báo chí năm 2016, sửa đổi bổ sung, hoàn chỉnh Luật cũng như các văn bản dưới Luật để hoàn thiện hơn nữa môi trường pháp lý cho hoạt động báo chí. Xác định rõ tiêu chí đối với từng loại hình thông tin điện tử nhất là báo điện tử, tạp chí điện tử, trang thông tin điện tử tổng hợp, mạng xã hội; có quy định để điều chỉnh hoạt động của các công ty công nghệ chuyên cung cấp thông tin báo chí. Tăng cường trách nhiệm của cơ quan chủ quản, của cơ quan báo chí trong thực hiện tôn chỉ, mục đích và nội dung thông tin, trong hợp tác hoạt động báo chí, trong đầu tư nền tảng công nghệ số cho sự phát triển vươn tầm của báo chí. Thực hiện ngay quy hoạch báo chí đã được phê duyệt trong năm 2019, rà soát cấp phép lại hoặc thu hồi giấy phép hoạt động đối với các tổ chức, cơ quan trong thời gian qua đã buông lỏng quản lý, có nhiều vi phạm trong hoạt động báo chí. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng những người làm báo về bản lĩnh chính trị, về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, công nghệ, trau dồi đạo đức, ý thức về sứ mệnh nghề nghiệp, thực hiện tốt quy định về trách nhiệm và chuẩn mực khi tham gia mạng xã hội. 

Bốn là, thúc đẩy các giải pháp công nghệ, các biện pháp kỹ thuật phù hợp bắt kịp với sự phát triển của Internet, mạng xã hội. Khuyến khích mạng xã hội có nền tảng công nghệ trong nước phát triển, khuyến khích các cơ quan, tổ chức trong nước xây dựng mạng xã hội nội bộ. Tăng cường ứng dụng công nghệ để phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các thông tin sai sự thật, xấu, độc có ảnh hưởng đến ổn định chính trị, xã hội. Nâng cao năng lực phân tích, điều tra, nghiên cứu công chúng, đo lường thái độ của người sử dụng Internet, tham gia truyền thông xã hội đối với những vấn đề được dư luận quan tâm. 

Năm là, truyền thông xã hội khác biệt vì nội dung do người dùng tạo ra và thông tin mang tính cá nhân hóa cao, do đó, sự quản lý của Nhà nước là cần thiết nhưng quan trọng nhất vẫn là ý thức người dùng. Việc người dùng nâng cao sức “đề kháng”, trang bị hiểu biết về pháp luật, bộ lọc văn hóa tốt, ứng xử văn minh, lịch lãm trong tranh luận, phản biện, có năng lực về tin tức, đánh giá được độ tin cậy của thông tin trên truyền thông xã hội là rất quan trọng. Có như vậy, việc khai thác, sử dụng mạng xã hội mới hiệu quả, thiết thực và lành mạnh, người dùng mới có thể bảo vệ những giá trị của bản thân, của cộng đồng và dân tộc. 

Cho nên, cần chú trọng tăng cường các biện pháp tuyên truyền nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức, trách nhiệm khi tham gia các nền tảng truyền thông xã hội của mọi công dân. Giáo dục định hướng giá trị để người trẻ biết tránh khỏi các biểu hiện lệch lạc về nhận thức và hành vi; trang bị cho học sinh, sinh viên kỹ năng tự bảo vệ thông tin cá nhân, cách thức chắt lọc, tiếp nhận thông tin. 

Phát huy vai trò của các tổ chức và cá nhân, nhất là những người điều hành website, blog, fanpage, các KOLs, influencers, người trẻ trong xây dựng môi trường Internet, mạng xã hội lành mạnh. Mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên tham gia mạng xã hội phải giữ vai trò là lực lượng nòng cốt đăng tải, chia sẻ, lan tỏa thông tin tích cực và xem đây là giải pháp thường xuyên, lâu dài. 

Việt Nam đang là một quốc gia có chính trị, xã hội ổn định và trên đà phát triển, tuy nhiên, cũng vẫn tiềm ẩn những nguy cơ gây mất ổn định. Tạo lập môi trường thông tin lành mạnh, an toàn, trong đó, truyền thông xã hội là một trong những nguồn lực thông tin quan trọng, sẽ góp phần tích cực, hiệu quả, bảo vệ, gìn giữ môi trường chính trị, xã hội ổn định làm nền tảng cho đất nước phát triển bền vững.

TTXVN/Báo Tin tức

Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin và truyền thông

Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin và truyền thông

Hiện nay, cả nước có 153 cơ sở giáo dục có đào tạo về ICT, mỗi năm có gần 35 ngàn sinh viên được đào tạo ICT ra trường. Trong số đó, khoảng 30% sinh viên làm việc ở các doanh nghiệp về ICT. Số còn lại làm chuyên môn về ICT ở các đơn vị, cơ quan khác

Theo khảo sát của VietnamWorks (một trang web tuyển dụng tại Việt Nam) về ngành công nghệ thông tin ở Việt Nam, trong 3 năm qua, số lượng công việc trong ngành này đã tăng trung bình 47% mỗi năm. Tuy nhiên, số lượng nhân sự ngành này lại chỉ tăng ở mức trung bình 8%.

Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng và Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ đi thăm các gian hàng.

Theo các chuyên gia, ước tính Việt Nam sẽ cần khoảng 78.000 nhân lực công nghệ thông tin mỗi năm và đến năm 2020 sẽ thiếu khoảng 400.000 nhân lực công nghệ thông tin.

Dù nhân lực ngành công nghệ thông tin và truyền thông đang thiếu về số lượng nhưng báo cáo của Viện Chiến lược Thông tin và Truyền thông (Bộ Thông tin và Truyền thông) cũng chỉ ra rằng, chỉ có 28% sinh viên ngành này ra trường làm việc được ngay, có việc làm đúng nghề, còn 72% sinh viên phải đào tạo bổ sung ít nhất 3 tháng do không có kinh nghiệm thực hành, thiếu kỹ năng làm việc nhóm…

Ông Hoàng Minh Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội nêu thực tế: “Các doanh nghiệp khát nhân lực và cạnh tranh lẫn nhau để giành được nhân lực và người tốt nghiệp dẫn tới có nhiều lựa chọn thì các em lại không chú ý đến chuyện học tập cho bài bản, đi sâu vào những năng lực cốt lõi, mong muốn đi làm ngay. Và như vậy nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao lại càng thiếu hụt. Tức là ta thiếu về quy mô, nhưng cũng từ thiếu quy mô đó dẫn tới chất lượng trình độ cao, trình độ chuyên gia lại càng thiếu hụt, đó là vấn đề đáng báo động”.

Hiện nay nhiều trường đại học, cao đẳng và doanh nghiệp đã ký kết các văn bản với doanh nghiệp để đào tạo nhân lực ngành công nghệ thông tin và truyền thông nhưng kết quả thực tế không cao.

Hầu hết doanh nghiệp có tâm lý chờ đợi, đứng ngoài hoạt động đào tạo và chỉ mong muốn lấy nhân lực, mà chưa có trách nhiệm hợp tác với các trường đại học trong vấn đề đào tạo. Vì vậy, các đại biểu cho rằng, giữa nhà trường và doanh nghiệp cần có sự phối hợp từ khâu đào tạo, tạo môi trường thực tập, nghiên cứu khoa học… để đảm bảo nhân lực đào tạo ra đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp về chất lượng.

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ phát biểu tại tọa đàm.

Theo Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ, từ thực tế thị trường, cung- cầu, chất lượng nguồn nhân lực lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông cho thấy, vấn đề kết nối giữa doanh nghiệp và nhà trường không mới, nhưng muốn hiệu quả phải trở thành nhu cầu tự thân của cả hai bên. Cơ chế hợp tác này cần đổi mới theo hướng là các doanh nghiệp nhìn các trường như bạn hàng, cả hai bên đều có lợi ích.

“Cơ chế đổi mới theo hướng là tăng cường thực hành để làm sao tạo ra mối quan hệ hợp tác giữa trường đại học với doanh nghiệp đâu đó có hình ảnh giống như trường đại học Y với bệnh viện. Các thầy phải gắn với môi trường thực tế và học sinh cũng phải thực tế. Bản thân các doanh nghiệp ấy cũng phải coi các trường đại học hay là các sinh viên là một tài sản của mình. Như vậy 2 bên mới đến được với nhau, chứ còn nếu như chỉ bằng hảo tâm, rồi cho một số học bổng, hay cho đi thực tập không thì chưa thiết thực”, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ cho hay.

Song song với tọa đàm, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Bộ Thông tin và Truyền thông cũng tổ chức triển lãm về phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin và truyền thông với sự tham gia của 15 trường đại học và 10 doanh nghiệp.

Tại triển lãm, các doanh nghiệp quảng bá, giới thiệu với các trường, sinh viên lĩnh vực công nghệ thông tin về công nghệ, các sản phẩm tiềm năng, nhu cầu tuyển dụng nhân lực, cơ hội thực tập cũng như những yêu cầu cụ thể đối với sinh viên sau khi tốt nghiệp… Các trường đại học cũng giới thiệu với doanh nghiệp về năng lực đào tạo, nghiên cứu khoa học và khả ngăng đáp ứng nhu cầu thị trường lao động…, từ đó có thể hợp tác để đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp./.

Minh Hường/VOV1

Truyền thông trong sự kiện và các phương tiện để truyền thông

Truyền thông trong sự kiện và các phương tiện để truyền thông

Truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, tương tác thông tin giữa hai hoặc nhiều người với nhau nhằm tăng cường sự hiểu biết, thay đổi nhận thức. Khái niệm truyền thông còn được hiểu là sản phẩm của con người, là động lực kích thích sự phát triển của xã hội.

Ngày nay ngành truyền thông có rất nhiều lợi ích hỗ trợ con người phát triển. Truyền thông có sức mạnh vô cùng lớn, nó lan tỏa trong cộng đồng rất nhanh chóng; ảnh hưởng lên mọi mặt của đời sống

Truyền thông trong sự kiện

Trong tổ chức sự kiện, truyền thông nắm vai trò vô cùng quan trọng, một sự kiện thành công là được nhiều người biết đến và được giới truyền thông đánh giá tốt. Bất kỳ hình thức nào của truyền thông cũng đều đóng 1 vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của chúng ta. Luôn luôn là như thế bởi hằng ngày chúng ta không ngừng giao tiếp  với mọi người xung quanh dù chúng ta có thể không chú ý mấy đến điều này.

Khác với việc quảng bá cho một sản phẩm thì công tác truyền thông cho một sự kiện đòi hỏi phải có 2 giai đoạn chủ chốt là trước và sau khi tổ chức sự kiện đó, tương ứng với các thời điểm đó là những công cụ để truyền thông phù hợp.

1.Banner, Poster, Flyer, phướn dọc:

Đây là một trong những công cụ cơ bản và tiêu biểu nhất cho bất cứ chương trình, vip events nào. Hình ảnh thông tin được thể hiện trên banner, poster flyer là hình ảnh cơ bản và thể hiện rõ nhất để đưa đến công chúng. Tùy tính chất chương trình đối tượng mà khu vực địa điểm để treo, dán phát banner poster và flyer sẽ khác nhau. Tuy nhiên ở một số nơi việc treo banner quảng cáo bị hạn chế nên người làm Event cần nghiên cứu kỹ quy định về quảng cáo ngoài trời của địa phương trước khi thực hiện.

2.Phương tiện truyền thông đại chúng: (Báo giấy, truyền hình, radio…)

Đối với báo giấy, để tiếp cận đúng khán giả mục tiêu và để đảm bảo hiệu quả của việc truyền thông, chúng ta cần lưu ý tìm hiểu về đối tượng độc giả, độ phổ biến của tờ báo, số kỳ phát hành mỗi tháng và số bản phát hành cho mỗi kỳ. Và cuối cùng cũng là điều quan trọng nhất là tính chất sự kiện. Cho dù bạn đang sử dụng bất cứ công cụ truyền thông nào thì việc lưu ý đến tính chất và đối tượng nhắm đến của sự kiện cũng hết sức quan trọng.

3.Phương tiện công nghệ số: (báo điện tử, social media, tin nhắn nhanh, SMS Marketing, Email Marketing…)

Đối với những sự kiện mà người tham dự mục tiêu thường dành nhiều thời gian lang thang trên mạng Internet thì nhà tổ chức thường rất chú trọng công tác truyền thông trên Internet.Quảng cáo banner trên các website, gởi email thông báo về sự kiện hay đăng bài PR trên báo điện tử là những hình thức quen thuộc nhất.

Công ty tổ chức sự kiện chuyên nghiệp BeeST luôn mang đến cho sự kiện của bạn những giải pháp truyền thông hiệu quả, hợp lý, đảm bảo sự kiện của bạn sẽ trở thành trung tâm của sự chú ý, tâm điểm trong vô vàn các sự kiện khác.

Theo trang thông tin Beest.vn

Thực hành tổ chức & quản lý một sự kiện

Thực hành tổ chức & quản lý một sự kiện

Vì dường như tổ chức sự kiện là một nhiệm vụ khá khó khăn, vì là một sự kiện không thể thành công nếu như thiếu khâu chuẩn bị và tổ chức một cách kỹ lưỡng. Chính vì thế chúng ta – những người tổ chức sự kiện – sinh ra là giúp cho các sự kiện được hoàn hảo và thành công. Muốn được như vậy khâu chuẩn bị phải trải qua các bước không đơn giản.

Phần 1/4: Kế hoạch 1 tháng trước sự kiện

1. Xác định mục đích của sự kiện

Bạn đang lên kế hoạch đẩy mạnh cho nền giáo dục trong nước? Bạn muốn thuyết phục các nhà tài trợ tiềm năng đầu tư cho một quỹ hoạt động nào đó? Hay đơn giản là tổ chức một sự kiện cá nhân hoặc cho một nhóm? Một số những câu hỏi hình thành sẽ giúp bạn định hướng rõ ràng cho việc tổ chức sự kiện. Những mục tiêu này sẽ kiểm soát cái bạn đang làm, và sẽ đảm bảo rằng bạn biết bạn đang gì và lý do tại sao bạn lại làm nó.

Hãy xem việc đặt câu hỏi cho bản thân là một nhiệm vụ tất yếu. Đó là cốt lõi để bạn thành công khi bạn tổ chức một sự kiện và dũ nhiên mọi việc sẽ dễ dàng hơn bao giờ hết khi bạn biết chính xác bạn muốn gì.

2. Thiết lập mục tiêu

Mục tiêu mà bạn muốn đạt được là gì? Đó không phải là việc bạn muốn trình bày trước bao nhiêu người, thậm chí cũng không phải là quá trình sự kiện diễn ra thực tế thế nào, mà là bạn muốn nhận được thành quả gì sau khi sự kiện kết thúc? Lợi nhuận 1000$? bạn muốn mọi người thay đổi cách nhìn nhận về sản phẩm? hay là làm cho mọi người cảm thấy hào hứng với sản phẩm mới. Đó sẽ là tất cả mục tiêu bạn đề ra và mong muốn gặt hái sau sự kiện. Mục tiêu của bạn có thể là: Gia tăng doanh số, tìm kiếm khách hàng mục tiêu, mở rộng thị trường, mở rộng mối quan hệ…

Hãy nghĩ tới 3 điều quan trọng nhất mà bạn muốn hướng tới và mong muốn gặt hái sau sự kiện: Gia tăng doanh số, tìm kiếm khách hàng mục tiêu, mở rộng thị trường, mở rộng mối quan hệ cá nhân…và tập trung vào nó. Mục tiêu tùy thuộc ở bạn.

3. Phát triển nguồn lực tình nguyện viên

Một nhóm làm việc có hiệu quả khi có nhiều thành viên với các kỹ năng khác nhau từ khâu chuẩn bị lên kế hoạch và ngân sách, làm thiệp mời và áp phích, chào đón khách hàng và cả công việc hậu cần sau sự kiện. Nói cách khác, tình nguyện viên có thể giúp sự kiện diễn ra một cách tốt nhất suôn sẽ nhất. Bạn có thể làm việc với các tình nguyện viên thân thiết để chắc rằng mọi việc thật suôn sẻ.

Bạn phải chắc chắn rằng các thành viên và người quản lý thực hiện”đúng tiến độ” như kế hoạch đã đề ra. Sự hợp tác nhịp nhàng giữa các thành viên làm cho công việc dễ dàng & trôi chảy hơn.

Nếu bạn không thể tìm thấy được tình nguyện viên phù hợp thì hãy thuê một nhóm chuyên trách phù hợp với loại hình sự kiệnbạn đangtổ chứchoặc bạn có thể thuê một công ty thứ ba.

4. Xác định ngân sách

Việc xác định ngân sách giúp chúng ta có kế hoạch đúng đắn và các giải pháp phù hợp hơn để tránh lãng phí và mang lại hiệu quả cao nhất dựa trên ngân sách bỏ ra. Nếu không dự trù ngân sách, bạn sẽ kết thúc tất cả với một xấp hóa đơn và không một ý tưởng sáng tạo nào được hình thành.

Sử dụng ngân sách hợp lý với chi phí thấp bằng nhiều phương án: tìm tình nguyện viên, xem xétcác địa điểm tổ chứcvới mức chi phí phù hợp hơn(có thể tồ chức tại nhà riêng). Hãy nhớ rằng:một sự kiện với quy mô nhỏ, đơn giản nhưng tổ chức tốt sẽ ấn tượng hơn một sự kiện hoành tráng nhưng tổ chức với nhiều thiếu sót.

5. Quyết định thời gian và địa điểm

Đây là một yếu tố nổi bật quan trọng đối với thành công của một sự kiện. Đây cũng là một trong những yếu tố thu hút khách hàng tiềm năng đến với sự kiện của bạn. Bạn cần cân nhắc lưa chọn thời gian và địa điểm thuận tiện nhất cho các khách hàng mục tiêu của mình.

Cần tính toán xem thời gian tổ chức sự kiện có trùng với sự kiện khác hay không. Nếu khách hàng mục tiêu của bạn là nội trợ thì có thể chọn thời gian linh hoạt trong ngày và tại một nơi gần đó có thể sẽ là một sự lựa chọn đáng để suy nghĩ. Một điều hiển nhiên là cho dù ở địa điểm nào bạn cũng cần phải đặt trước để chắc rằng không phải vì yếu tố địa điểm mà ảnh hưởng tới kế hoạch của bạn.

6. Công tác hậu cần

Bạn cần xét yếu tố hậu cần cho mọi thứ: Nơi đậu xe như thế nào? Cần chuẩn bị những gì cho người tàn tật ? Bạn sẽ tổ chức những gì trong không gian cho phép? Bạn sẽ cần thiết bị gì? Những vật dụng nào bạn cần chuẩn bị thêm ( nước, đồ ăn, tờ rơi ), tất cả phải được tính vào chi phí phát sinh? Bạn cần bao nhiêu nhân sự hỗ trợ cho sự kiện?

Điều quan trọng là phải cần có thời gian cùng bàn bạc với nhóm và nêu ra tất cả những vấn đề có thể xảy ra, có những rủi ro nào mà bạn có thể biết được và cách giải quyết? Những khách mời đặc biệt cần phải được chuẩn bị trước chỗ ở. Có trường hợp ngoại lệ nào cần được giải quyết không?

7. Quảng cáo và tiếp thị

Trong quá trình thực hiện sự kiện, bạn phải chuẩn bị băng rôn áp phích với địa điểm, thời gian, tên của sự kiện, tên khách mời, phông nền hoặc là tag line cho sự kiện. Bạn có thể mất khá nhiều thời gian cho khâu chuẩn bị này, nhưng tốt hơn hết là bạn nên phác thảo sơ bộ tất cả (có thể bằng thiết kế 2D 3D) để thấy được rằng mọi thứ thật hoàn hảo như khi bạn tưởng tượng.

Hãy nghĩ tới các phương án tiếp thị khác trên Facebook, Twitter. Những hoạt động quảng cáo nào sẽ được truyền thông trước sự kiện, những hoạt động nào trong sự kiện sẽ được diễn ra để níu chân khách hàng ở lại cho tới hết sự kiện.

8. Tổ chức quản lý chính bản thân mình

Có thể bạn sẽ có cảm giác bận rộn mệt mỏi, chỉ có thể hoàn tất được khi bạn có ba đầu sáu tay. Hãy hít thở thư giãn và mở Excel lên chuẩn bị một dự thảo kế hoạch các hoạt động trong sự kiện này. Thực hiện một vài bảng tính để tổ chức kiểm soát được mọi việc. Bạn sẽ có cảm giác đây là công việc giấy tờ mất thời gian không cần thiết, nhưng bạn sẽ thấy việc bạn làm sẽ vô cùng hữu ích trong 2 tháng tới.

Chuẩn bị time line (kế hoạch cụ thể bao gồm về nhân sự cùng với thời gian nhất định để hoàn tất công việc) cho từng hoạt động cụ thể . Viết tên tất cả nhân sự tham gia tổ chức, họ sẽ làm chính xác ở khâu nào và khi nào cần hoàn thành công việc. Bằng cách đó bạn có thể sắp xếp thời gian của bản thân và trả lời bất kỳ câu hỏi thắc mắc từ mọi người trong bất kỳ trường hợp nào.

Bài viết với sự tham khảo từ trang WikiHow và biên tập dựa trên thực tế tại Việt Nam. Xin vui lòng góp ý thêm bên dưới, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm và ý kiến của bạn với các nhà tổ chức sự kiện khắp Việt Nam, để cộng đồng chúng ta thật sự mang lại dấu ấn mạnh mẽ với các nhân tố Tổ chức sự kiện đầy tài năng.

Theo trang thông tin brandsvietnam.com

Tại sao doanh nghiệp nên cần phải có một website chuyên nghiệp ?

Tại sao doanh nghiệp nên cần phải có một website chuyên nghiệp ?

Internet rất khác các ấn phẩm quảng cáo thông thường mà là giá rẻ, quảng cáo của bạn có thể truy cập trong một thời gian dài, nội dung có thể thay đổi mà không cần phải yêu cầu một ai đó để làm điều đó cho bạn, nó mang lại những lợi ích to lớn mà doanh nghiệp không thể phủ nhận. Sau đây là những lý dó dễ nhận thấy nhất để doanh nghiệp có thể bắt đầu xây dựng website:

Internet rất khác các ấn phẩm quảng cáo thông thường mà là giá rẻ, quảng cáo của bạn có thể truy cập trong một thời gian dài, nội dung có thể thay đổi mà không cần phải yêu cầu một ai đó để làm điều đó cho bạn, nó mang lại những lợi ích to lớn mà doanh nghiệp không thể phủ nhận. Sau đây là những lý dó dễ nhận thấy nhất để doanh nghiệp có thể bắt đầu xây dựng website:

 Thiết lập sự hiện diện mới trên internet, tạo cơ hội tiếp xúc với khách hàng ở mọi nơi và tại mọi thời điểm.

 Giới thiệu các sản phẩm dịch vụ một cách sinh động và mang tính tương tác cao.
Tạo cơ hội để bán sản phẩm hàng hóa một cách chuyên nghiệp mà không tốn nhiều chi phí.
 Cơ hội phục vụ khách hàng tốt hơn, đạt được sự hài lòng lớn hơn từ khách hàng.

 Tạo một hình ảnh chuyên nghiệp trước công chúng, công cụ hiệu quả để thực hiện các chiến dịch PR và marketing.

 Và đơn giản không có web site là một nguyên nhân thất bại của doanh nghiệp

Đối với doanh nghiệp thì website có thể có các chức năng sau:

E-brochure: Website có thể đóng vai trò một brochure giới thiệu về công ty, sản phẩm và dịch vụ cung cấp với những hình ảnh và có thể có các file âm thanh và hình ảnh phong phú, sống động. Đối tác, khách hàng có thể truy cập vào xem một cách nhanh chóng, không mất thời gian chờ đợi gửi qua đường bưu điện. Doanh nghiệp tiết kiệm được rất nhiều chi phí in ấn, gửi thư và luôn cập nhật được thông tin một cách thuận lợi. Đây cũng là một phương tiện xây dựng hình ảnh công ty chuyên nghiệp trong mắt khách hàng.

E-catalogue: Trên website, doanh nghiệp có thể đưa những catalogue đầy đủ nhất về sản phẩm với những hình ảnh và thông tin chi tiết của mỗi sản phẩm. Khách hàng có thể tìm sản phẩm theo thuộc tính, theo mã hàng, theo giá cả,… một cách nhanh chóng.

E-shop: E-catalogue có thể tích hợp những tính năng đặt hàng, hoặc có thể có chức năng thanh toán trực tuyến để trở thành một công cụ bán hàng của doanh nghiệp

E-support: Doanh nghiệp có thể hỗ trợ khách hàng thông qua website như giải đáp các thắc mắc, tư vấn, cung cấp tài liệu kỹ thuật, đăng ký bảo hành, và có thể chat trực tuyến với khách hàng. Thông qua website, khách hàng cũng có thể liên hệ với doanh nghiệp một cách nhanh nhất.

Công cụ cung cấp thông tin: Website là một công cụ cung cấp thông tin quan trọng của doanh nghiệp không những cho đối tượng khách hàng mà còn cho các đối tượng khác như: nhà đầu tư, cổ đông, đối tác, thông tin đại chúng.

Ngoài ra, các ứng dụng web rất phong phú và đa dạng có thể ứng dụng trong rất nhiều hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp.

Nếu không có website, doanh nghiệp gặp một số bất lợi sau

Thị trường và tiếp cận thị trường

– Không tiếp cận được thị trường thế giới

– Khó tiếp cận được thị trường rộng với chi phí nhỏ

Chất lượng phục vụ khách hhangfm cung cấp thông tin

– Không cung cấp được đầy đủ thông tin cho khách hàng một cách nhanh chóng, tiện lợi
– Không giải đáp thắc mắc, yêu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng, hiệu quả
– Không cung cấp được dịch vụ tiện lợi cho khách hàng chọn hàng, đặt hàng
– nNhững yếu tố nói trên thực sự quan trọng khi doanh nghiệp có đối tượng khách hàng ở xa, ở nhiều địa phương, quốc gia.

Marketing
– Bị giới hạn phạm vi địa lý

– Không truyền tải được nhiều thông tin, thời lượng

– Không dễ dàng theo dõi hiệu quả, nhận tương tác của khách hàng

– v.v…

Chi phí

– Chi phí marketing rất cao

– Chi phí in ấn, gửi tài liệu, liên lạc qua phone, fax… đặc biệt là khi người nhận ở xa (liên tỉnh, quốc tế)

– Chi phí nhân sự, mặt bằng cao (cho trường hợp siêu thị, phòng trưng bày…)
– v.v…

Bộ mặt của doanh nghiệp và lợi thế cạnh tranh

– Khi đối thủ cạnh tranh có website mà doanh nghiệp không có thì doanh nghiệp khó giữ khách hàng cũ và tìm thêm khách hàng mới

– Tính chuyên nghiệp trong thời đại Toàn cầu hóa, Kỹ thuật số, Thông tin, Kinh tế Tri thức… ‘Một doanh nghiệp không có website ắt hẳn không theo kịp thời đại, không chuyên nghiệp’ – đó là những gì mọi người nghĩ và tin như thế.

Đối với tổ chức không phải doanh nghiệp thì website có lại ích gì?

Đối với các tổ chức không phải doanh nghiệp, website là nơi cập nhật, cung cấp các thông tin về tổ chức tới mọi người, là hình ảnh, cơ quan đối ngoại của tổ chức. Website thể hiện sự hiện đại, chuyên nghiệp của tổ chức, qua đó sẽ là cầu nối vững chắc của các tổ chức với nhau và của tổ chức với xã hội.

Đối với cá nhân thì website có lợi ích gì?

Đối với các cá nhân, đặc biệt là những người nổi tiếng, website là nơi thể hiện cá tính, trao đổi thông tin, cầu nối bạn bè. Và hơn thế nữa, website có thể là nơi để nói ra những suy nghĩ của cá nhân tới cộng đồng.

Tại sao doanh nghiệp cần phải có website?

Có mặt trên hệ thống web toàn cầu: Số người sống, hoạt động và làm việc dựa trên nền tảng Internet đang ngày càng tăng. Theo thống kê thì trung bình có hơn 600 triệu người trên thế giới đã truy cập vào mạng Internet và số lượng này không ngừng được tăng lên hàng ngày. Việc tiếp cận một cách nhanh chóng với các khách hàng tại Việt nam và trên toàn thế giới chứng tỏ sự thành công của doanh nghiệp. Bạn nên biết rằng, đối thủ của bạn cũng đang làm như vậy.

Văn phòng ảo trên mạng Internet: Website như một showroom rộng rãi, tiếp được số lượng khách hàng không hạn chế về thời gian hay không gian. Điều này có thể xảy ra khi bạn sở hữu 1 website với đầy đủ thông tin về doanh nghiệp và sản phẩm dịch vụ của bạn.

Nguồn thông tin về sản phẩm và dịch vụ luôn sẵn sàng: Không gì hơn bằng việc bạn tự sắp xếp nội dung về sản phẩm và dịch vụ trên website của bạn. Chuẩn bị một lần duy nhất và bán nhiều lần cho khách hàng tiềm năng. Chi phí giảm đi rất nhiều và doanh thu tăng đáng kể theo thời gian.

Chủ động hơn về nguồn thông tin. Luôn sẵn sàng giải đáp cho khách hàng những câu hỏi cần thiết như làm thế nào để khách hàng quan tâm có thể liên hệ được ngay với bạn? Phương thức thanh toán trong mỗi dịch vụ sẽ như thế nào? . Trong thời đại hiện nay, các thông tin đòi hỏi phải nhanh chóng hơn và mang tính đa chiều hơn. Internet sẽ giúp bạn làm được điều đó thông qua những trang thông tin được duy trì liên tục 24/24 giờ trong ngày và 07 ngày trong tuần. Khách hàng có thể xem thông tin về doanh nghiệp của bạn bất kỳ lúc nào họ muốn, thậm chí ngay cả khi bạn đang ngủ.

Tăng chất lượng phục vụ – Tăng doanh thu bán hàng: Sở hữu 1 website đồng nghĩa bạn có nhiều cách hơn để phục vụ khách hàng. Liệu bạn có đủ đội ngũ nhân viên trực điện thoại để tiếp nhận các yêu cầu của khách hàng về cung cấp thông tin dịch vụ mà họ cần? Liệu khách hàng có thể tự động tra cứu vào cơ sở dữ liệu, tìm kiếm các thông tin về dịch vụ bạn đang tiến hành mà họ muốn không? Tất cả điều này khách hàng có thể là được 1 cách đơn giản và nhanh chóng thông qua chính Website của doanh nghiệp bạn.

Một kênh bán hàng hiệu quả 24/24: Bạn khó mà thuyết phục được các tạp chí đăng bài về việc bạn khai trương một cửa hàng mới nhưng bạn lại có thể thuyết phục được họ đăng bài nêu tên Website của bạn vì trang Web đó mới và có nhiều điều thú vị. Với các thông tin sống động như vậy, bất kỳ khách hàng nào cũng có thể truy cập vào Website để tìm hiểu về doanh nghiệp của bạn và có thể trở thành khách hàng tiềm năng.

Thông tin truyền tải nhanh nhất: Nếu bạn cần phải công bố các tài liệu trước lúc nửa đêm thì sẽ như thế nào? Giả sử đó là tin khẩn cấp, công bố các giải thưởng của chương trình khuyến mại,… Nếu bạn gửi các tin này tới các tòa soạn báo thì bạn sẽ gặp phải trở ngại về thời gian: Thông tin của bạn chỉ được phát hành cùng với giờ phát hành của báo và không thể thay đổi sau khi báo đã được phát hành. Với mạng Internet, bạn hoàn toàn có thể thay đổi tin tức mới cho Website của doanh nghiệp trong vòng vài giây đồng hồ, những thông tin mới nhất sẽ được cập nhật và sẽ được chuyển tới những người mong đợi mà không phải qua bất kỳ người đưa tin nào.

Để bán hàng hóa: Thói quen mua sắm trực tuyến đang ngày càng gia tăng tại Việt nam. Tỷ lệ mua sắm trực tuyến chiếm 40% – 80% doanh số của phần đa các công ty làm về thương mại điện tử. Bạn có nhường cơ hội này cho đối thủ hay không?

Bán hàng tự động – Giới thiệu sản phẩm – dịch vụ không giới hạn: Khách hàng luôn có nhu cầu tìm hiểu sản phẩm và dịch vụ trước khi đưa ra quyết định mua sắm. Website chính là một kênh bán hàng hiệu quả. Internet kết hợp với website mở ra cho bạn nhiều cách thức để giới thiệu sản phẩm thật sinh động tới khách hàng thông qua Website bằng hình ảnh, âm thanh, các đoạn phim ngắn. Khách hàng tiềm năng sẽ đến với bạn nhiều hơn, không một quyển sách giới thiệu nào có thể làm được như vậy.

Mở rộng thị trường tiềm năng: Ở Việt nam, Internet đã dần là một cách thức giải trí và mua sắm không thể bỏ qua. Những người sử dụng Internet thường là những người có trình độ học vấn, có hiểu biết và địa vị ổn định, thu nhập cao trong xã hội. Chính vì vậy, tiếp cận được và chiếm lĩnh thị trường khách hàng này là điều mà bất kỳ doanh nghiệp kinh doanh nào cũng mong muốn đạt được.

Trả lời tự động các câu hỏi thường gặp: Bất kỳ người trực điện thoại nào trong công ty bạn cũng đều nói rằng họ dùng phần lớn thời gian của mình để trả lời các câu hỏi gần như giống nhau. Đó là những câu hỏi mà các khách hàng muốn hỏi trước khi họ giao dịch với bạn. Đưa danh sách những câu hỏi này lên Website sẽ giúp bạn loại bỏ được những thắc mắc của khách hàng đối với công việc kinh doanh và giải phóng bớt thời gian cho nhân viên hỗ trợ khách hàng.

Thông tin nội bộ thông suốt: Các nhân viên bán hàng lưu động có thể cần những thông tin cập nhật từng phút để giúp họ bán hàng cũng như giúp cho việc kinh doanh luôn ăn ý. Nếu bạn biết thông tin gì cần thiết, bạn có thể đưa chúng lên 1 Website riêng. Với việc truy cập vào website , nhân viên bán hàng của bạn ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới sẽ nhận được những thông tin đầy đủ nhất với chi phí rẻ nhất và những nhân viên trực ở văn phòng không bận rộn thêm.

Chiếm lĩnh thị trường quốc tế: Với việc kinh doanh thông thường bạn có thể gửi thư, điện thoại tới tất cả mọi khách hàng tiềm năng trên thị trường thế giới với chi phí khá tốn kém nhưng với việc sở hữu 1 website bạn có thể hội thoại trực tiếp với khách hàng quốc tế như là với một khách hàng trong nước. Khi doanh nghiệp của bạn có các văn phòng đại diện ở nước ngoài, họ sẽ truy cập vào nguồn thông tin của văn phòng trong nước với chi phí phải trả chỉ bằng một cuộc điện thoại gọi nội hạt.

Hình thành dịch vụ 24 giờ: Các Website sinh ra để phục vụ khách hàng và các đối tác của bạn 24/24 giờ trong ngày, 07/07 ngày trong tuần. Thông tin có thể được khách hàng lựa chọn theo nhu cầu và các thông tin mà họ coi là quan trọng, chính điều này sẽ đưa bạn dẫn đầu trong cuộc cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi bạn đang nghỉ ngơi.

Cập nhật thông tin 1 cách nhanh chóng: Trái đất luôn quay, cuộc sống biến đổi từng giây. Có những thông tin bị thay đổi ngay trước khi nó được in ra. Và bạn sẽ có một đống giấy tờ có cũng như không có giá trị lẫn lộn nhau. Các ấn phẩm điện tử có thể thay đổi theo nhu cầu của bạn mà không cần đến giấy tờ, bút mực hay hóa đơn. Bạn còn có thể gắn Website của doanh nghiệp với 1 cơ sở dữ liệu mà bạn có thể thay đổi bao nhiêu lần trong 1 ngày cũng được tùy theo yêu cầu. Chẳng có giấy tờ nào có thể giúp bạn thực hiện được sự năng động đó.

Cho phép bạn tiếp nhận thông tin phản hồi từ phía khách hàng: Với Website bạn có thể yêu cầu thông tin phản hồi từ phía khách hàng ngay lập tức khi họ đang ghé thăm Website của doanh nghiệp bạn. Điều này giúp bạn tiết kiệm được rất nhiều thời gian và tiền bạc để hoạch định các chiến lược quảng cáo và kinh doanh trên cơ sở những thông tin nắm bắt được từ phía khách hàng mà không phải mất thêm khoản chi nào nữa. Câu trả lời của khách hàng được đưa lên Website ngay khi khách hàng tìm hiểu sản phẩm và được chuyển lập tức tới địa chỉ e-mail của bạn.

Thử nghiệm dịch vụ và sản phẩm mới trên thị trường: Khi đưa ra một sản phẩm mới trên thị trường, điều mà tất cả các doanh nghiệp phải làm là quảng cáo và giới thiệu sản phẩm đó. Với các phương pháp quảng cáo truyền thống, đây sẽ là một công đoạn rất tốn kém và đòi hỏi kinh phí lớn. Nhưng nếu bạn giới thiệu, quảng cáo sản phẩm mới trên Website của doanh nghiệp bạn, bạn sẽ biết rằng có thể chờ đợi gì từ những khách hàng truy cập vào Website, họ chính là thị trường ít tốn kém nhất mà bạn vươn tới. Họ còn có thể cho bạn biết họ nghĩ gì về sản phẩm của bạn 1 cách nhanh nhất, dễ dàng nhất với một chi phí ít hơn bất kỳ thị trường nào mà bạn vươn tới.

Phương tiện truyền thông linh hoạt: Ngày nay, Internet được đánh giá là hệ thống truyền dẫn chuyên nghiệp nhất bởi vì sản phẩm chính của nó là các thông tin được tiếp cận một cách dễ dàng, nhanh chóng và rẻ tiền. Tất cả các ấn phẩm được truyền trên Internet đang ngày càng trở nên phổ biến bởi vì các công việc đều được thực hiện trong môi trường kỹ thuật số từ rất nhiều nguồn thông tin cung cấp. Tất cả những công việc này thực hiện một cách dễ dàng thông qua các trang Web trên chính Website của doanh nghiệp bạn.

Tiếp cận một thị trường của giới trẻ và mang tính giáo dục: Ở hầu hết các trường đại học đều đã cho sinh viên tiếp cận vào Internet, giới học sinh phổ thông sẽ từng bước làm quen và sử dụng dịch vụ Internet trong nhiều năm tới. Nhu cầu về sách vở, trang phục thể thao, các khóa học, thời trang trẻ và rất nhiều thứ khác sẽ trở thành nhu cầu đa dạng của thị trường trên Internet. Thậm chí ngay cả khi áp dụng dịch vụ thương mại điện tử trên mạng và tuổi thọ trung bình có phần tăng lên thì sự tăng trưởng của khu vực thị trường tuổi dưới 25 vẫn tiếp tục.

Tiếp cận một thị trường có tính chuyên nghiệp: Mạng Internet không đơn thuần chỉ là những máy tính mà nó còn là nơi mọi người có thể mua bán, trao đổi bất kỳ thứ gì từ chiếc bàn chải đánh răng, các tác phẩm nghệ thuật cho đến các bài học tiếng Anh,… Với 70 triệu người sử dụng thường xuyên và số lượng người sử dụng tăng lên hàng ngày, thông tin kinh doanh của bạn có thể được giới thiệu cho một số lượng người rất lớn.

Phục vụ tại thị trường địa phương: Chúng ta đã nói về sức mạnh của việc phục vụ nhu cầu trên thị trường quốc tế thông qua Internet, nhưng còn khu vực thị trường ở ngay địa phương của bạn thì sao? Câu trả lời là: chính khách hàng trong địa phương bạn thông qua các hoạt động marketing, họ sẽ biết tới Website, truy cập thông tin trên Internet và mang lại lợi nhuận cho công ty bạn. Cho nên dù công ty được đặt ở đâu thì thông qua mạng Internet, những khách hàng tiềm năng vẫn biết đến bạn và bạn cũng sẽ sẵn sàng phục vụ họ.

Theo trang thông tin adcvietnam.net

Phát triển chiến lược truyền thông hiệu quả

Phát triển chiến lược truyền thông hiệu quả

Để phát triển một chiến lược truyền thông hiệu quả, người truyền thông phải  thực hiện một tiến trình bao gồm các bước chủ yếu sau đây: định dạng công chúng  mục tiêu, xác định mục tiêu truyền thông, thiết kế thông điệp, lựa chọn kênh truyền  thông, xác định ngân sách cổ động, quyết định về hệ thống cổ động, đánh giá kết  quả truyền thông.

1. Định dạng công chúng mục tiêu

Người truyền thông muốn thực hiện công việc truyền thông thì trước hết phải  xác định rõ đối tượng mà mà cần truyền thông tin là ai. Công chúng có thể là những  khách mua tiềm tàng các sản phẩm của doanh nghiệp, những người sử dụng hiện  thời, những người quyết định, hoặc những người gây ảnh hưởng. Công chúng  mục tiêu có thể là những cá nhân, những nhóm người nào đó. Công chúng mục tiêu  sẽ ảnh hưởng quan trọng đến những quyết định của người truyền thông về : nói cái  gì, nói như thế nào, nói khi nào, nói ở đâu và nói với ai.

2. Xác định mục tiêu truyền thông

Một khi đã xác định được công chúng mục tiêu và những đặc điểm của nó, thì  người truyền thông marketing phải quyết định về những phản ứng đáp lại mong  muốn của công chúng. Tất nhiên phản ứng đáp lại là làm cho người mua mua hàng  và hài lòng. Nhưng hành vi mua hàng là kết quả cuối cùng của một quá trình rất dài  để thông qua quyết định của người tiêu dùng. Người truyền thông marketing cần  biết cách làm thế nào để đưa công chúng mục tiêu lên trạng thái sẵn sàng mua cao  hơn.

Người làm marketing có thể tìm kiếm ở công chúng mục tiêu phản ứng đáp lại  về nhận thức, cảm thụ hay hành vi. Nghĩa là người làm marketing có thể muốn khắc  sâu vào tâm trí người tiêu dùng một điều gì đó thay đổi thái độ của họ hay thúc đẩy  người tiêu dùng đến chỗ hành động. Có những mô hình khác nhau về các giai đoạn  phản ứng đáp lại của người tiêu dùng. 12.4 trình bày bốn mô hình về mức độ phản  ứng đáp lại quen thuộc nhất.

Tất cả những mô hình trên đây đều giả thiết rằng phần lớn người mua trải qua  các giai đoạn nhận thức, cảm thụ và hành vi theo đúng trật tự logic này. Đây là  chuỗi “nhận thức -cảm thụ -hành vi” và thích hợp khi công chúng để tâm rất nhiều  đến một loại sản phẩm đã nhận thức là có nhiều điểm khác biệt, như khi mua một  chiếc xe máy. Một chuỗi khác là “hành vi -cảm thụ -nhận thức”, khi công chúng để  tâm rất nhiều, nhưng nhận thức được ít hay không nhận thức thấy có sự khác biệt  trong loại sản phẩm đó, như khi mua một chai nước tinh khiết. Còn một chuỗi thứ  ba là “nhận thức -hành vi -cảm thụ”, khi công chúng ít để tâm và nhận thức ít có sự  khác biệt trong loại sản phẩm, như khi mua muối ăn. Khi hiểu được chuỗi thích hợp  người làm marketing có thể thực hiện tốt hơn việc lập kế hoạch truyền thông.

Ở đây ta sẽ giả thiết rằng người mua để tâm rất nhiều vào loại sản phẩm và  nhận thức rõ sự khác biệt trong loại sản phẩm đó. Vì vậy ta sẽ sử dụng mô hình  “mức độ của hiệu quả” (nhận thức, cảm thụ, hành vi) và mô tả sáu trạng thái sẵn  sàng của người mua – biết, hiểu, thích, chuộng, tin chắc và mua.

Biết (awareness). Người truyền thông trước hết phải nắm được việc công  chúng mục tiêu biết đến sản phẩm hay tổ chức của mình như thế nào. Nếu đa số họ  chưa biết gì về doanh nghiệp và sản phẩm của nó, thì công việc của người truyền  thông là tạo cho họ biết, ít nhất cũng là tên doanh nghiệp. Điều này có thể làm được  bằng một thông điệp đơn giản có sự lặp đi lặp lại tên này. Tuy vậy việc tạo cho  công chúng biết được thông tin đơn giản cũng đòi hỏi có thời gian.

Hiểu (knowledge). Công chúng mục tiêu có thể biết về sản phẩm hay doanh  nghiệp nhưng có thể chưa thực sự hiểu về chúng. Làm cho công chúng hiểu được  doanh nghiệp và sản phẩm của nó là mục tiêu tiếp theo của người truyền thông.

Thích (liking). Nếu công chúng đã hiểu về sản phẩm, liệu họ có cảm nghĩ gì  về sản phẩm ấy. Nếu công chúng tỏ ra không có thiện cảm với sản phẩm, thì doanh  nghiệp cần triển khai một chiến dịch truyền thông nhằm gây dựng mối thiện cảm.  Và nếu điều này không đem lại kết quả do sản phẩm còn nhiều khiếm khuyết, thì  doanh nghiệp trước hết phải tìm cách cải tiến sản phẩm. Việc quan hệ với công  chúng đòi hỏi phải “hành động tốt đi trước lời nói tốt”.

Chuộng (preference). Công chúng mục tiêu có thể thích sản phẩm nhưng lại  không ưa chuộng nó hơn những sản phẩm khác. Trường hợp này cần khuếch trương  những đặc tính nổi bật của sản phẩm như giá cả, chất lượng và các tính năng khác  để thuyết phục công chúng và làm tăng mức độ ưa chuộng sản phẩm của họ.

Tin chắc (conviction). Công chúng mục tiêu có thể ưa chuộng một sản phẩm  nhưng không tin chắc rằng mình sẽ mua nó. Công việc của người truyền thông là  thiết lập một niềm tin vững chắc rằng quyết định mua sản phẩm đó là đúng dắn.  Mua (purchase). Một số trong công chúng mục tiêu có thể đã tin, nhưng  không hẳn tính ngay đến việc mua. Họ có thể chờ đợi có thêm thông tin, hoặc dự  định để làm việc đó sau. Người truyền thông phải dẫn những khách hàng tiềm năng  này đi đến bước cuối cùng là mua hàng.

Sáu trạng thái trên được tập hợp trong ba giai đoạn : nhận thức (biết, hiểu), cảm thụ (thích, chuộng và tin chắc), và hành vi (mua). Ngưòi tiêu dùng có thể đang ở bất kỳ một trong số sáu trạng thái sẵn sàng mua đó. Công việc của ngườiì truyền thông là xác định xem đa số người tiêu dùng đang ở giai đoạn nào, và triển khai một chiến dịch truyền thông để đưa họ đến giai đoạn tiếp theo.

3. Thiết kế thông điệp

Sau khi đã xác định được đáp ứng mong muốn của người mua, tiếp theo cần  thiết kế một thông điệp có hiệu quả. Một cách lý tưởng, theo mô hình AIDA một  thông điệp phải gây được sự chú ý (attention), tạo được sự quan tâm (interest), khơi  dậy được mong muốn (desire) và thúc đẩy được hành động (action). Trong thực tế,  ít có thông điệp nào đưa người tiêu dùng đi trọn vẹn từ trạng thái biết đến hành vi  mua, nhưng cấu trúc AIDA đưa ra được những tiêu chuẩn đáng mong muốn.

Việc tạo thành một thông điệp sẽ đòi hỏi giải quyết bốn vấn đề : nói cái gì (nội dung thông điệp), nói thế nào cho hợp lý (cấu trúc thông điệp), nói thế nào cho diễn cảm (hình thức thông điệp) và ai nói cho có tính thuyết phục (nguồn thông điệp).

a. Nội dung thông điệp

Người truyền thông phải hình dung được những điều sẽ nói với công chúng  mục tiêu đề tạo được sự đáp ứng mong muốn. Quá trình này được gọi bằng những  cách khác nhau là soạn thảo lời mời chào, chủ đề hay ý tưởng. Tựu trung lại là nêu  lên một số lợi ích, động cơ, đặc điểm hay lý do tại sao công chúng cần nghĩ đến hay  nghiên cứu sản phẩm. Chủ đề lý tính liên hệ tới những lợi ích riêng của người mua,  rằng sản phẩm sẽ đem lại những gì mà người mua mong đợi: chất lượng, tính kinh  tế, giá trị hay các tính năng đặc biệt khác của sản phẩm. Nhiều người tin rằng những  người mua tư liệu sản xuất đáp ứng nhiệt tình nhất với các thông điệp có chủ đề lý  tính. Họ đều biết rõ về các nhóm sản phẩm, được huấn luyện để nhận biết giá trị và  chịu trách nhiệm trước những người khác về việc lựa chọn của mình. Những người  tiêu dùng khi mua những mặt hàng đắt tiền cũng có xu hướng đáp ứng các thông  điệp đề cập dến chất lượng, tính kinh tế, giá trị và các tính năng của sản phẩm. Chủ  đề tình cảm khơi dậy những tình cảm tích cực hay tiêu cực đúng mức để đưa đến việc mua. Chẳng hạn gợi nên tình cảm yêu thương, bao dung, tự hào, khôi hài,…

Hay nhắc đến nguy cơ bệnh tật, những thói quen xấu, khiến người ta phải làm việc  cần làm là khám sức khỏe định kỳ, hay ngừng làm những việc không nên làm là bỏ  thuốc lá, thôi uống rượu, bỏ thói ăn tham. Chủ đề đạo đức hướng người ta đến sự ý  thức về cái thiện, thúc dục sự ủng hộ các mục tiêu có tính chất xã hội như bảo vệ  môi trường, giúp đỡ người tàn tật,…

b. Cấu trúc thông điệp

Hiệu quả của một thông điệp phụ thuộc rất nhiều vào cấu trúc cũng như nội  dung của nó. Người truyền thông phải quyết định có nên đưa ra kết luận rõ ràng,  hay để công chúng tự rút ra kết luận. Thực tế cho thấy đưa ra kết luận rõ ràng thì  thường hiệu quả hơn. Hay phải quyết định nên đưa những luận chứng đanh thép  vào đầu hay cuối thông điệp. Giới thiệu luận chứng đanh thép vào đầu thông điệp  thì tạo sự chú ý mạnh, nhưng có thể dẫn đến một kết thúc có tính chất giảm dần.

c. Hình thức thông điệp

Hình thức biểu đạt một thông điệp phải thật sinh động để cuốn hút sự chú ý,  quan tâm và dễ thuyết phục người mua. Đốïi với một ấn phẩm quảng cáo, người  truyền thông phải quyết định về tiêu đề, lời lẽ, minh họa, màu sắc và thể hiện theo  cách đề cao tính lạ thường và tương phản, hình ảnh và tiêu đề lôi cuốn, hình thức  khác thường, kích cỡ và vị trí gây được sự chú ý, hình ảnh sống động,… Nếu truyền  qua radio phải chọn từ ngữ, cách phát âm và chất lượng giọng đọc (tốc độ đọc, nhịp  điệu, cao độ và mức độ rõ ràng và sức truyền cảm của giọng đọc). Nếu thông điệp  được thực hiện trên truyền hình hay giao tiếp trực tiếp, thì phải cộng thêm những  yếu tố khác nữa là ngôn ngữ của hình thể và phong cách (những gợi ý không lời),  như vẽ đẹp và sự biểu lộ của nét mặt, dáng vẽ và sự vận động của thân thể, trang  phục, kiểu tóc,…

Nếu thông điệp được truyền qua sản phẩm hay bao bì thì cần lưu ý đến cách xếp đặt, hương thơm, màu sắc, kích thước và kiểu dáng của sản phẩm và bao bì.

d. Nguồn thông điệp

Sự tác động của thông điệp đối với người tiêu dùng còn chịu ảnh hưởng bởi  việc họ cảm nhận về người gửi như thế nào. Các thông điệp được gởi đi từ những  nguồn đáng tin cậy thì có tính thuyết phục cao.

Có ba yếu tố thường được thừa nhận là làm tăng mức độ đáng tin cậy của  nguồn: Tính chuyên môn, tính đáng tin, và tính khả ái. Tính chuyên môn biểu thị  mức độ mà người truyền thông có được thẩm quyền để ủng hộ một luận điểm. Các  bác sĩ, nhà khoa học, các chuyên gia được đánh giá cao về tính chuyên môn trong  lĩnh vực tương ứng của họ. Tính đáng tin liên quan tới việc nguồn được cảm nhận  có mức độ khách quan và trung thực ra sao. Bạn thân thì đáng tin cậy hơn người lạ  hay người bán hàng. Tính khả ái thể hiện mức hấp dẫn của nguồn truyền tải thông  điệp đối với công chúng. Tính thật thà, hài hước và tự nhiên làm cho người truyền  tải thông điệp trở nên khả ái hơn. Vì vậy, nguồn hữu hiệu nhất là nguồn đạt mức độ  cao trong cả ba yếu tố nói trên.

4. Chọn lựa phương tiện truyền thông

Người truyền thông giờ đây phải chọn lựa các kênh truyền thông hữu hiệu.

Các kênh truyền thông có hai loại: kênh trực tiếp và kênh gián tiếp.

a. Kênh truyền thông trực tiếp

Trong kênh này, hai hay nhiều người sẽ trực tiếp truyền thông với nhau. Họ có  thể truyền thông qua tiếp xúc trực tiếp nhân viên với đối tượng, qua điện thoại, hoặc  qua thư từ trên cơ sở giao tiếp cá nhân. Các kênh truyền thông trực tiếp tạo ra hiệu  quả thông qua những cơ hội cá nhân hóa việc giới thiệu và thông tin phản hồi.

Các kênh truyền thông trực tiếp có thể chia nhỏ thành các kênh giới thiệu,  kênh chuyên viên và kênh xã hội. Kênh giới thiệu gồm các nhân viên bán hàng của  doanh nghiệp tiếp xúc trực tiếp với người mua trên thị trường mục tiêu. Kênh  chuyên viên gồm những chuyên viên độc lập phát biểu ý kiến của mình với khách  hàng mục tiêu. Kênh xã hội gồm những người láng giềng, bạn bè, các thành viên  trong gia đình và những người đồng sự nói chuyện với khách hàng mục tiêu.  Ảnh hưởng của vai trò cá nhân đối với công chúng mục tiêu đặc biệt quan  trọng trong các trường hợp họ cần mua những sản phẩm đắt tiền, có nhiều rủi ro  hay không mua thường xuyên, hay những sản phẩm nói lên địa vị hoặc thị hiếu của  người sử dụng.

b. Kênh truyền thông gián tiếp

Những kênh truyền thông gián tiếp chuyển các thông điệp đi mà không cần có sự tiếp xúc hay giao tiếp trực tiếp. Chúng bao gồm các phương tiện truyền thông đại chúng, bầu không khí và các sự kiện.

Các phương tiện truyền thông đại chúng bao gồm những phương tiện truyền  thông dưới dạng ấn phẩm (thư trực tiếp, báo và tạp chí), những phương tiện truyền  thông quảng bá (truyền thanh, truyền hình), những phương tiện truyền thông điện tử  (băng ghi âm và ghi hình, đĩa ghi hình, internet) và những phương tiện trưng bày  (panô, bảng hiệu, áp phích). Hầu hết các thông điệp gián tiếp đều được chuyển tải  qua các phương tiện truyền thông có trả tiền.

Bầu không khí là những khung cảnh có chủ tâm nhằm tạo ra hay củng cố xu  hướng mua và tiêu dùng sản phẩm. Một khách sạn có tiền sảnh cao rộng với những  hàng cột đá hoa cương và được trang trí bằng những đèn chùm theo phong cách cổ  điển và một ít cây xanh tạo nên sự sang trọng và ấm cúng.  Các sự kiện là những công việc có chủ tâm, nhằm chuyển tải các thông điệp  đặc biệt đến công chúng mục tiêu, như tổ chức các buổi họp báo, lễ khai trương và  bảo trợ hoạt động thể thao,…

Mặc dù có ít hiệu quả hơn truyền thông trực tiếp, các phương tiện truyền  thông đại chúng có thể là công cụ chủ yếu kích thích truyền thông trực tiếp. Truyền  thông đại chúng tác động đến thái độ và hành vi cá nhân thông qua một quá trình  truyền dòng thông tin hai cấp. Thông thường dòng ý tưởng được phát đi từ đài  truyền thanh, truyền hình và các ấn phầm đến những người hướng dẫn dư luận rồi  từ những người đó được truyền đến những bộ phận dân cư kém tích cực hơn.

5. Xây dựng ngân sách cổ động

Một trong những quyết định khó khăn nhất đặt ra trước doanh nghiệp là cần  chi bao nhiêu cho cổ động. John Wanamaker, người phụ trách một cửa hàng bách  hóa tổng hợp, đã phát biểu: “Tôi biết rằng một nửa số quảng cáo của mình là không  có tác dụng gì, nhưng không biết đó là nửa nào”.

Vì thế không có gì đáng ngạc nhiên là các ngành và các doanh nghiệp chi cho  cổ động những khoản tiền chênh nhau khá nhiều. Ở Mỹ, chi phí cổ động có thể  chiếm từ 30 đến 50% doanh số trong ngành mỹ phẩm, nhưng chỉ chiếm từ 10 đến  20% trong ngành thiết bị công nghiệp. Trong phạm vi một ngành nhất định cũng có  thể thấy có những doanh nghiệp chi ít và những doanh nghiệp chi rất nhiều cho cổ  động. Hãng Philip Morris là hãng chi rất nhiều. Sau khi hãng này thôn tính công ty  bia Miller rồi tiếp đến là công ty nưóc giải khát Seven-up, nó đã tăng đáng kể chi  phí cổ động và làm tăng được thị phần của Miller từ 4 lên đến 19% trong vài năm. Có bốn phương pháp phổ biến được sử dụng để xác định ngân sách cổ động.

a. Phương pháp căn cứ vào khả năng ngân sách dành cho cổ động

Nhiều doanh nghiệp xác định ngân sách cổ động ở mức mà họ có thể dành cho  hoạt động này. Một giám đốc marketing đã giải thích phương pháp này như sau:  “ Rất đơn giản, trước tiên là tôi gặp kế toán trưởng và hỏi xem trong năm nay có  khả năng trích cho chúng tôi bao nhiêu tiền. Kế toán trưởng trả lời là một trăm rưỡi  triệu đồng. Ít lâu sau Giám đốc gặp tôi và hỏi chúng tôi cần chi bao nhiêu tiền và tôi  đã trả lời “ Dạ thưa khoảng một trăm rưỡi triệu đồng”.

Phương pháp xác định ngân sách này hoàn toàn bỏ qua vai trò của cổ động  như một khoản đầu tư và ảnh hưởng tức thời của cổ động đến khối lượng tiêu thụ.  Nó dẫn đến một ngân sách cổ động hàng năm không xác định, gây khó khăn cho  việc lập kế hoạch truyền thông dài hạn.

b. Phương pháp tính tỷ lệ phần trăm theo doanh thu

Nhiều doanh nghiệp xác định chi phí cổ động của mình bằng tỷ lệ phần trăm trên doanh thu (trong năm hay dự kiến) hay của giá bán.

Phương pháp này có ưu điểm: Thứ nhất, nó có nghĩa là chi phí cổ động sẽ thay  đổi tùy theo khả năng của doanh nghiệp. Điều này thỏa mãn được những người  quản trị tài chính có quan điểm “chi phí phải gắn chặt với biến động mức tiêu thụ  của doanh nghiệp trong chu kỳ kinh doanh”. Thứ hai, nó khuyến khích ban lãnh đạo  nghĩ đến mối liên hệ giữa chi phí cổ động, giá bán và lợi nhuận trên đơn vị sản  phẩm. Thứ ba, nó khuyến khích ổn định cạnh tranh ở mức độ mà các doanh nghiệp  chi cho cổ động một tỷ lệ phần trăm doanh thu của mình xấp xỉ ngang nhau.

Mặc dù vậy, phương pháp này cũng có một số nhược điểm. Nó dẫn đến chỗ  xác định ngân sách căn cứ vào ngân quỹ hiện có chứ không phải theo những cơ hội  của thị trường. Nó không khuyến khích việc tiến hành cổ động không theo chu kỳ  hay chi phí tiến công. Sự phụ thuộc của ngân sách cổ động vào biến động của mức  tiêu thụ hàng năm sẽ gây trở ngại cho việc lập kế hoạch dài hạn. Phương pháp này  không tạo ra một căn cứ logic để lựa chọn một tỉ lệ phầm trăm cụ thể, ngoại trừ  những gì đã làm được trong quá khứ hay những gì mà đối thủ cạnh tranh đang làm.

Cuối cùng nó không khuyến khích xây dựng ngân sách cổ động trên cơ sở xác định xem mỗi sản phẩm và thị trường xứng đáng chi bao nhiêu.

c. Phương pháp cân bằng cạnh tranh

Một số doanh nghiệp xác định ngân sách cổ động của mình theo nguyên tắc  đảm bảo ngang bằng với chi phí của các đối thủ cạnh tranh. Họ tin chắc rằng bằng  cách chi một tỷ lệ phần trăm doanh thu bán hàng cho quảng cáo ngang bằng với các  đối thủ cạnh tranh họ sẽ duy trì được thị phần của mình.

Quan điểm này cho rằng, mức chi phí của các đối thủ cạnh tranh thể hiện sự  sáng suốt tập thể của ngành, và việc duy trì cân bằng cạnh tranh giúp ngăn chặn các  cuộc chiến tranh cổ động. Tuy nhiên, không có cơ sở nào để tin rằng các đối thủ  cạnh tranh biết rõ hơn cần phải chi bao nhiêu cho cổ động. Bởi vì các doanh nghiệp  rất khác nhau về danh tiếng, nguồn lực, cơ hội và mục tiêu marketing.

d. Phương pháp căn cứ vào mục tiêu và nhiệm vụ

Phương pháp này đòi hỏi những người làm marketing phải xây dựng ngân  sách cổ động của mình trên cơ sở xác định mục tiêu cụ thể và những nhiệm vụ cần  phải hoàn thành để đạt được mục tiêu rồi ước tính chi phí để thực hiện những nhiệm  vụ đó. Tổng các chi phí này là dự toán ngân sách cổ động.

– Xác định chỉ tiêu thị phần.

– Xác định số phần trăm thị trường mà việc quảng cáo cần đạt tới.

– Xác định số phần trăm khách hàng tiềm năng biết đến cần thuyết phục dùng thử nhãn hiệu.

– Xác định ấn tượng quảng cáo tính trên một phần trăm số người dùng thư.í

– Xác định số điểm chỉ số tổng hợp cần đạt được. Một điểm chỉ số tổng hợp là một lần tiếp xúc trên 1% công chúng mục tiêu. Ví dụ nếu doanh nghiệp muốn đạt được 30 lần tiếp xúc cho 70% công chúng thì nó cần 3500 điểm chỉ số tổng hợp.

– Xác định ngân sách quảng cáo cần thiết căn cứ vào chi phí bình quân cho một điểm chỉ số tổng hợp. Ví dụ, để đảm bảo 1% công chúng mục tiêu tiếp xúc với ấn tượng quảng cáo phải chi trung bình là 50 000 đồng thì chi phí để có 3500 điểm chỉ số tổng hợp là 17 500 000 đồng

Phương pháp này có ưu điểm là đòi hỏi ban lãnh đạo phải trình bày rõ những giả thiết của mình về mối quan hệ giữa tổng chi phí, mức độ tiếp xúc, tỉ lệ dùng thử và mức sử dụng thường xuyên.

Vấn đề chủ yếu là cần dành cho cổ động trọng số bằng bao nhiêu trong toàn  bộ marketing mix (so với cải tiến sản phẩm, hạ giá, tăng dịch vụ, v.v..). Câu trả lời  còn tùy thuộc vào chỗ sản phẩm của doanh nghiệp đang ở giai đoạn nào trong chu  kỳ sống của nó, chúng có phải là hàng tiêu dùng thông thường không hay là những  sản phẩm khác biệt, chúng có nhu cầu thường xuyên không hay cần phải “bán” đi,  và nhiều vấn đề khác nữa. Về lý thuyết, tổng ngân sách cổ động phải được xác định  ở mức đảm bảo lợi nhuận biên tế từ một đồng cổ động phải bằng lợi nhuận biên tế  của một đồng dùng vào các mục đích không phải cổ động. Tuy nhiên việc thực hiện  nguyên tắc này không hề dễ dàng.

6. Quyết định về hệ thống cổ động (promotion – mix)

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn các công cụ cổ động. Mỗi công cụ cổ động lại có những điểm đặc thù riêng và chi phí của nó. Người làm marketing phải nắm được những đặc điểm này khi lựa chọn chúng.

a.      Đặc điểm của các công cụ cổ động

Quảng cáo

Do có nhiều hình thức và cách sử dụng quảng cáo, nên khó có thể khái quát  hóa đầy đủ những điểm đặc thù của nó với tính cách là một yếu tố cấu thành của hệ  thống cổ động. Nhưng dù sao thì cũng có thể nêu lên một số những đặc điểm của hệ  thống cổ động như sau:

– Tính đại chúng. Quảng cáo là một hình thức truyền thông mang tính đại  chúng rất cao. Bản chất đại chúng của nó khẳng tính chính thức của sản phẩm và  cũng tạo nên một tiêu chuẩn cho sản phẩm. Vì nhiều người nhận được một thông  điệp như nhau, nên người mua biết rằng mọi người cũng sẽ hiểu được động cơ mua  sản phẩm đó của họ.

– Tính sâu rộng. Quảng cáo là một phương tiện truyền thông rất sâu rộng, cho  phép người bán lặp lại một thông điệp nhiều lần. Nó cũng cho phép người mua  nhận và so sánh thông điệp của các đối thủ cạnh tranh. Quảng cáo với quy mô lớn  cũng nói lên một điều tốt về qui mô, khả năng và sự thành đạt của người bán.

– Tính biểu cảm. Quảng cáo tạo ra những cơ hội để giới thiệu doanh nghiệp và  sản phẩm của nó bằng cách sử dụng khôn khéo hình ảnh, âm thanh và màu sắc. Tuy  nhiên đôi khi tác dụng biểu cảm rất mạnh của công cụ này có thể làm mờ nhạt hay  đánh lạc hướng sự chú ý đến thông điệp.

– Tính chung. Quảng cáo không thể có tính chất ép buộc như trường hợp đại  diện bán hàng của doanh nghiệp. Công chúng không cảm thấy mình có bổn phận  phải chú ý hay hưởng ứng. Quảng cảo chỉ có thể thực hiện độc thoại, chứ không phải đối thoại với công chúng.

Quảng cáo có thể sử dụng để tạo ra một hình ảnh lâu bền cho một sản phẩm  (quảng cáo Coca-cola),hay để kích thích tiêu thụ nhanh (quảng cáo của các siêu thị  đối với đợt bán hàng cuối tuần). Quảng cáo là một phương thức có hiệu quả để  vươn tới nhiều người mua phân tán về địa lý với chi phí thấp cho một lần tiếp xúc.

Những hình thức quảng cáo nhất định, như quảng cáo trên truyền hình, có thể đòi  hỏi một ngân sách lớn, song cũng có những hình thức quảng cáo khác, như quảng  cáo trên báo chí, lại có thể thực hiện được với một ngân sách nhỏ. Quảng cáo có thể  có tác dụng chỉ vì sự hiện diện của nó. Người tiêu dùng có thể tin là một nhãn hiệu  được quảng cáo nhiều phải có “giá trị lớn”, nếu không thì tại sao người quảng cáo  lại chi nhiều tiền cho việc giới thiệu sản phẩm đó như vậy ?

Khuyến mãi

Mặc dù công cụ khuyến mãi, như phiếu thưởng, cuộc thi, phần thưởng,… rất đa dạng, chúng đều có ba đặc điểm chủ yếu sau:

– Truyền thông. Chúng thu hút sự chú ý và thường cung cấp thông tin có thể đưa người tiêu dùng đến với sản phẩm.

– Khuyến khích. Chúng kết hợp việc nhân nhượng, khích lệ hay hỗ trợ nào đó có giá trị đối với người tiêu dùng.

– Mời chào. Chúng chứa đựng lời mời chào thực hiện ngay việc mua bán.

Các doanh nghiệp sử dụng công cụ khuyến mãi để tạo ra phản ứng đáp lại  mạnh mẽ hơn và nhanh hơn. Có thể sử dụng các công cụ khuyến mãi để chào hàng  có hiệu quả và phục hồi mức tiêu thụ đang sa sút. Tuy nhiên hiệu quả của khuyến  mãi thưòng mang tính chất ngắn hạn và không có tác dụng tạo dựng sự ưa thích lâu  dài đối với nhãn hiệu đó.

Marketing trực tiếp

Marketing trực tiếp bao gồm một số hình thức như thư gửi trực tiếp, marketing qua điện thoại, marketing điện tử v.v.., với một số đặc điểm khác biệt là:

– Không công khai. Thông điệp thường đưọc chuyển đến một người cụ thể và không đến với những người khác.

– Theo ý khách hàng. Thông điệp có thể được soạn thảo theo ý khách hàng để hấp dẫn cá nhân người nhận.

– Cập nhật. Có thể soạn thảo và gửi thông điệp rất nhanh cho người nhận.

Quan hệ công chúng và tuyên truyền

Sức hấp dẫn của các quan hệ công chúng xuất phát từ ba đặc điểm sau:

– Tín nhiệm cao. Nội dung và tính chất của thông tin có vẻ xác thực và đáng  tin cậy hơn đối với người đọc so với quảng cáo.- Không cần cảnh giác. Quan hệ  công chúng có thể tiếp cận đông đảo khách hàng tiềm năng mà họ thường né tránh  tiếp xúc với nhân viên bán hàng và quảng cáo. Thông điệp đến với người mua dưới  dạng tin sốt dẻo.

– Giới thiệu cụ thể. Giống như quảng cáo, quan hệ công chúng có khả năng giới thiệu cụ thể doanh nghiệp hay sản phẩm.

Những người làm marketing có xu hướng đánh giá thấp quan hệ công chúng,  hay sử dụng nó như một công cụ sau cùng. Tuy vậy, một chương trình quan hệ  công chúng có suy tính kỹ lưỡng phối hợp vói các yếu tố khác của hệ thống cổ động  có thể đạt được hiệu quả rất to lớn.

Bán hàng trực tiếp

Bán hàng trực tiếp là một công cụ có hiệu quả nhất về chi phí trong những  giai đoạn cuối của quá trình mua sắm, đặc biệt là trong việc tạo dựng sự ưa thích  của người mua, niềm tin và dẫn đến hành động mua hàng. Nguyên do là so với  quảng cáo thì bán hàng trực tiếp có ba đặc điểm khác biệt sau:

– Trực diện. Bán hàng trực tiếp đòi hỏi mối quan hệ sinh động, trực tiếp và qua lại giữa hai hay nhiều người. Mỗi bên tham dự có thể nghiên cứu trực tiếp những nhu cầu và đặc điểm của nhau và có những điều chỉnh tức thời.

– Xây dựng quan hệ. Bán hàng trực tiếp cho phép thiết lập nhiều mối quan hệ, từ quan hệ mua bán thông thường đến quan hệ bạn bè thân thiết. Những người đại diện bán hàng giỏi thường phải thực lòng quan tâm đến khách hàng, nếu họ muốn có quan hệ lâu dài.

– Phản ứng đáp lại. Bán hàng trực tiếp làm cho người mua thấy có bổn phận lắng nghe lời chào hàng. Người mua cần phải chú ý nghe và đáp lại, cho dù chỉ là

một lời cảm ơn lịch sự. Tuy nhiên, để có được những lợi thế đó, lực lượng bán hàng đòi hỏi một khoản chi phí lâu dài lớn hơn so với quảng cáo. Quảng cáo có thể bắt đầu và kết thúc, nhưng quy mô của lực lượng bán hàng thì rất khó thay đổi.

b.Những yếu tố quyết định cơ cấu của hệ thống cổ động

Khi xây dựng hệ thống cổ động của mình các doanh nghiệp thưòng chú ý đến một số yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả hoạt động của hệ thống này.

Kiểu thị trường sản phẩm

Tầm quan trọng của các công cụ cổ động rất khác nhau trên thị trường hàng  tiêu dùng và thị trường tư liệu sản xuất. Các doanh nghiệp hàng tiêu dùng đánh giá  theo thứ tự quảng cáo, khuyến mãi, bán hàng trực tiếp và quan hệ công chúng. Các  doanh nghiệp hàng tư liệu sản xuất đánh giá theo thứ tự bán hàng trực tiếp, khuyến  mãi, quảng cáo và quan hệ công chúng. Nói chung bán hàng trực tiếp được sử dụng  nhiều đối với những sản phẩm phức tạp, đắt tiền và nhiều rủi ro mà trên những thị  trường có ít người bán và người bán có qui mô lớn.

Trong khi trên thị trường tư liệu sản xuất quảng cáo không quan trọng bằng viếng thăm chào hàng, nó vẫn giữ một vai trò đáng kể. Quảng cáo có thể thực hiện những chức năng sau:

– Tạo sự biết đến. Các khách hàng tiềm năng chưa biết đến doanh nghiệp hay sản phẩm có thể từ chối không tiếp đại diện bán hàng. Ngoài ra đại diện bán hàng có thể mất nhiều thời gian để giới thiệu doanh nghiệp và sản phẩm của nó.

– Tạo sự hiểu biết đầy đủ. Nếu sản phẩm có những tính chất mới, thì quảng cáo có thể đảm nhận việc giải thích những tính chất đó một cách có kết quả.

– Nhắc nhở có hiệu quả. Nếu khách hàng tiềm năng biết về sản phẩm nhưng chưa sẵn sàng mua thì quảng cáo nhắc nhở sẽ kinh tế hơn là viếng thăm chào hàng.

– Hướng dẫn. Những quảng cáo có phân phát những cuốn sách nhỏ và có ghi số điênû thoại của doanh nghiệp là một phương thức hướng dẫn có hiệu quả đối với người đại diện bán hàng.

– Chính thức hóa. Các đại diện bán hàng có thể sử dụng những tờ quảng cáo về doanh nghiệp trong những tạp chí hàng đầu (có thể lấy rời ra) để chính thức hóa doanh nghiệp và sản phẩm của mình.

– Cam đoan một lần nữa. Quảng cáo có thể nhắc nhở khách hàng về cách sử  dụng sản phẩm và cam đoan một lần nữa với họ về món hàng mà họ đã mua.  Morrill trong công trình nghiên cứu của mình về marketing hàng tư liệu sản  xuất đã chứng minh rằng quảng cáo kết hợp với bán hàng trực tiếp đã tăng mức tiêu  thụ lên 23% so với khi không quảng cáo. Tổng chi phí cổ động tính bằng phần trăm  trên doanh thu đã giảm đi 20%.

Trái lại, bán hàng trực tiếp có thể có đòng góp to lớn trong marketing hàng  tiêu dùng. Có một số người làm marketing hàng tiêu dùng hạ thấp vai trò của lực  lượng bán hàng, chỉ sử dụng họ chủ yếu để thu nhận hàng tuần đơn đặt hàng của  các đại lý và kiểm tra xem lượng hàng còn lại trên giá trưng bày có đủ không. Cảm  giác chung là “nhân viên bán hàng bày sản phẩm lên giá rồi quảng cáo sẽ bán chúng  đi”. Ngay cả trong trường hợp này lực lượng bán hàng đưọc huấn luyện tốt vẫn có  thể có đóng góp quan trọng:

– Nâng mức dự trữ hàng ở các trung gian phân phối. Các đại diện bán hàng có thể thuyết phục các đại lý dự trữ nhiều hàng hơn và dành cho nhãn hiệu của doanh nghiệp nhiều chỗ trưng bày trên giá hơn.

– Tạo sự phấn khởi. Các đại diện bán hàng có thể tạo cho đại lý sự phấn khởi đối với sản phẩm mới bằng cách giới thiệu ý đồ quảng cáo và hỗ trợ khuyến mãi.

– Bán hàng ký gửi. Các đại diện bán hàng có thể huy động nhiều đại lý hơn để bán những nhãn hiệu của doanh nghiệp.

Chiến lược đẩy và kéo

Hệ thống cổ động chịu ảnh hưởng chủ yếu vào việc doanh nghiệp chọn một  trong hai chiến lược trái ngược nhau là chiến lược đẩy hay kéo để tạo ra mức tiêu  thụ. (hình 12.6).

Chiến lược đẩy đòi hỏi hoạt động marketing của nhà sản xuất (chủ yếu là lực  lượng bán hàng và khuyến mãi những người phân phối) hướng vào những người  trung gian của kênh để kích thích họ đặt hàng cũng như bán sản phẩm đó và quảng  cáo nó cho người sử dụng cuối cùng.

Chiến lược kéo đòi hỏi hoạt động marketing (chủ yếu là quảng cáo và khuyến  mãi đối với người tiêu dùng) hướng vào người sử dụng cuối cùng để kích thích họ  yêu cầu những người trung gian cung ứng sản phẩm và nhờ vậy kích thích những  người trung gian đặt hàng của nhà sản xuất.

Các doanh nghiệp trong cùng một ngành có thể khác nhau ở chỗ coi trọng  chiến lược đẩy hay chiến lược kéo. Ví dụ, công ty ZLever Brothers dựa chủ yếu vào  chiến lược đẩy còn Procter & Gamble thì dựa chủ yếu vào chiến lược kéo.

Giai đoạn sẵn sàng của người mua

Các công cụ cổ động có hiệu quả chi phí khác nhau trong các giai đoạn sẵn  sàng khác nhau của người mua. Hình 12.7 trình bày hiệu quả chi phí tương đốïi của  ba công cụ cổ động.

Quảng cáo và tuyên truyền giữ những vai trò quan trọng nhất trong giai đoạn  biết đến, lớn hơn so với những cuộc “viếng thăm đột xuất” của các đại diện bán  hàng hay khuyến mãi. Sự hiểu biết đầy đủ của khách hàng chịu tác động chủ yếu  của quảng cáo và bán hàng trực tiếp. Bán hàng trực tiếp và một phần nhỏ hơn là của  quảng cáo và khuyến mãi có tác động đáng đến việc củng cố niềm tin của khách  hàng. Việc tái đặt hàng cũng chịu tác động chính của bán hàng trực tiếp và khuyến  mãi, và một phần nào đó của quảng cáo nhắc nhở. Rõ ràng là quảng cáo và tuyên  truyền có hiệu quả của chi phí lớn nhất trong những giai đoạn đầu của quá trình  thông qua quyết định của người mua, còn bán hàng trực tiếp và khuyến mãi thì có  hiệu quả nhất trong các giai đoạn cuối.

Giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm

Các công cụ khuyến mãi cũng có hiệu quả của chi phí khác nhau trong những giai đoạn khác nhau của chu kỳ sống của sản phẩm. Hình 12.8 là đồ thị suy đoán hiệu quả tương đối của chúng.

Trong giai đoạn giới thiệu, quảng cáo và tuyên truyền có hiệu quả chi phí cao nhất, sau đó đến kích thích tiêu thụ để kích thích dùng thử và bán hàng trực tiếp để chiếm lĩnh địa bàn phân phối.

Trong giai đoạn phát triển, tất cả các công cụ đều có thể có hiệu quả giảm đi, bởi vì nhu cầu đã có đòn bẩy riêng của nó là lời đồn.

Trong giai đoạn sung mãn kích thích tiêu thụ, quảng cáo và bán hàng trực tiếp đều có tầm quan trọng tăng lên theo thứ tự đó.

Trong giai đoạn suy thoái kích thích tiêu thụ vẫn tiếp tục có tác dụng mạnh, quảng cáo và tuyên truyền thì giảm đi và nhân viên bán hàng chỉ thu hút được sự chú ý tối thiểu đến sản phẩm.

Hạng bậc trên thị trường của doanh nghiệp

Những nhãn hiệu thượng hạng được lợi nhiều từ quảng cáo hơn là từ khuyến  mãi. Đối với những nhãn hiệu thượng hạng tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư tăng  lên khi tỷ số chi phí cho quảng cáo trên khuyến mãi tăng. Còn đối với những nhãn  hiệu được xếp hạng thấp hơn thì khả năng sinh lời giảm đi khi tăng thêm mức độ  quảng cáo.

7. Đánh giá kết quả cổ động

Sau khi thực hiện kế hoạch cổ động người truyền thông phải đo lường tác  động của nó đến công chúng mục tiêu. Việc này đòi hỏi phải khảo sát công chúng  mục tiêu xem họ có nhận thấy hay ghi nhớ thông điệp đó không, họ đã nhìn thấy nó  bao nhiêu lần, họ ghi nhớ được những điểm nào, họ cảm thấy như thế nào về thông  điệp đó, thái độ trước kia và hiện nay của họ đối với sản phẩm đó và doanh nghiệp.  Người truyền thông cũng cần thu thập những số đo hành vi phản ứng đáp lại của  công chúng, như có bao nhiêu người đã mua sản phẩm, thích nó và nói chuyện với  những người khác về nó.

Hình 12.9 là một ví dụ đo lường thông tin phản hồi. Nhìn vào nhãn hiệu A ta  thấy rằng 70% toàn bộ thị trường biết đến nhãn hiệu A, 60% của số này đã dùng thử  nó và chỉ có 20% số ngưỡi đã dùng thử hài lòng với nó. Điều này cho thấy rằng  chương trình truyền thông đã có tác dụng tăng mức độ biết đến, thế nhưng sản  phẩm không đáp ứng được những mong đợi của người tiêu dùng. Mặt khác, chỉ có  40% toàn bộ thị trường biết đến nhãn hiệu B và trong số này chỉ có 30% đã dùng  thử nó, nhưng có đến 80% những người đã dùng thử nó hài lòng. Trong trường hợp  này chương trình truyền thông cần được tăng cường thêm để tận dụng ưu thế đảm  bảo thỏa mãn khách hàng của nhãn hiệu.

Theo Trang thông tin điện tử Dân Kinh tế

Chuyển giao và đổi mới công nghệ qua đầu tư trực tiếp nước ngoài

Chuyển giao và đổi mới công nghệ qua đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một kênh thu hút vốn quan trọng để thực hiện CNH, HĐH đất nước. FDI cũng được đánh giá là kênh quan trọng để thu hút công nghệ nguồn từ các nước có nền công nghiệp tiên tiến vào Việt Nam, góp phần đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ của khu vực sản xuất, kinh doanh và toàn bộ nền kinh tế trong quá trình hội nhập quốc tế.

Dây chuyền sản xuất phụ kiện ô-tô tại Công ty TNHH Mercedes – Benz Việt Nam (TP Hồ Chí Minh).

Theo đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH và CN), thời gian qua, FDI đã góp phần thúc đẩy đổi mới và chuyển giao công nghệ, từng bước nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Thông qua FDI, trình độ công nghệ sản xuất trong nước đã được nâng cao một bước so với thời kỳ trước đây. Một số ngành đã tiếp thu được công nghệ tiên tiến của thế giới như: bưu chính – viễn thông, dầu khí, xây dựng, cầu đường… Mặt khác, trong thời gian qua, nhiều doanh nghiệp trong nước đã đổi mới hoặc nâng cấp trang, thiết bị đáp ứng yêu cầu cạnh tranh ngày càng cao của nền kinh tế.

Từ việc thu hút công nghệ mới, tiên tiến, Việt Nam đã sản xuất được nhiều sản phẩm mới mà trước đây trong nước chưa có. Việc chuyển giao công nghệ từ nước ngoài thông qua FDI đã hạn chế thấp nhất việc nhập khẩu nhiều loại hàng hóa thuộc các lĩnh vực: dầu khí, sản xuất vật liệu xây dựng, hàng điện tử gia dụng, phương tiện giao thông… Các doanh nghiệp FDI đã tạo ra được nhiều sản phẩm có chất lượng cao, với hình thức, mẫu mã đẹp hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu như các sản phẩm điện tử, cơ khí, chế tạo, chế biến… Nhiều doanh nghiệp FDI đã tổ chức sản xuất các sản phẩm thuộc lĩnh vực công nghệ cao, xuất khẩu gần 100% sản phẩm ra thị trường nước ngoài thuộc các lĩnh vực điện tử, quang cơ – điện tử. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp trong nước, do sức ép cạnh tranh ngày càng cao từ các sản phẩm của doanh nghiệp FDI, cũng đã cố gắng thay đổi, nhập thiết bị và công nghệ mới. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp trong nước đã sản xuất được các sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, không thua kém hàng nhập khẩu với giá cả hợp lý, được người tiêu dùng ưu tiên sử dụng.

Những thành tựu nêu trên khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước đối với thu hút FDI, cũng như chính sách khuyến khích để đổi mới, góp phần nâng cao năng lực công nghệ quốc gia. Tuy vậy, việc thu hút công nghệ của nước ngoài chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn và nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế. Thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy: Hơn 80% số doanh nghiệp FDI sử dụng công nghệ trung bình của thế giới, 14% ở mức thấp và lạc hậu, chỉ có từ 5% đến 6% sử dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến.

Hoạt động chuyển giao công nghệ vẫn còn một số hạn chế cần sớm khắc phục như: định hướng khuyến khích, thu hút công nghệ cao, công nghệ tiên tiến trong đầu tư FDI còn quá thấp, mới đạt từ 5% đến 6%, trong khi mục tiêu đặt ra là từ 35% đến 40%. Mặc dù các công nghệ chuyển giao vào Việt Nam phần lớn có trình độ bằng hoặc cao hơn công nghệ sẵn có ở trong nước, nhưng mới chỉ đạt mức trung bình hoặc trung bình tiên tiến so với các nước trong khu vực. Những công nghệ được chuyển giao theo các dự án FDI thường được đưa vào theo lợi ích của nhà đầu tư, thậm chí là công nghệ thấp, lạc hậu bị loại thải, không theo nhu cầu đổi mới do phía Việt Nam chủ động đưa ra. Trong khi đó, thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp vẫn còn nặng về thành tích “trải thảm đỏ”, chạy theo phong trào giữa các địa phương nhằm lấp đầy diện tích đất các khu công nghiệp, chưa chú trọng hiệu quả FDI. Các địa phương chưa quyết tâm và chú ý việc thu hút các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao trong nông, lâm, ngư nghiệp, khai thác nguồn tài nguyên khoáng sản một cách tối ưu, hiệu quả nhất. Có những địa phương thực hiện “trải thảm đỏ” với bất cứ giá nào, nhưng nhiều vùng canh tác nông nghiệp màu mỡ lại mất đi.

Đáng chú ý, với xu thế cải cách thủ tục hành chính, hồ sơ dự án đầu tư ngày càng đơn giản, cho nên cơ quan thẩm định công nghệ không có đủ cơ sở để xem xét, thẩm định, đánh giá trình độ công nghệ của máy móc, công nghệ mà các đối tác FDI đầu tư.

Mặt khác, khi phân cấp đầu tư, phần lớn các cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đầu tư tại các tỉnh, thành phố lại không gửi hồ sơ dự án tham khảo ý kiến các sở KH và CN theo quy định. Do đó, trong trường hợp nhà đầu tư đưa vào máy móc, thiết bị, công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng, nguyên liệu, gây ô nhiễm môi trường…, sẽ không có cơ chế để ngăn chặn ngay từ đầu; đợi đến khi hậu kiểm lại không có cơ quan nào chịu trách nhiệm.

Việt Nam đã xác định thu hút FDI vào lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ tiên tiến là ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn từ nay đến năm 2020. Vì vậy, để khắc phục những hạn chế nói trên, theo chúng tôi, Quốc hội và Chính phủ, cũng như các cấp quản lý có thẩm quyền cần tập trung vào các giải pháp sau: Hoàn thiện các văn bản luật, sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ (hiệu lực từ ngày 1-7-2007); các chính sách liên quan đầu tư và đổi mới, chuyển giao công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, hiện đại, thân thiện với môi trường và phát triển bền vững. Cần có những chế định, không đưa vào các công nghệ cũ, lạc hậu, ô nhiễm môi trường. Nội dung giải trình công nghệ, máy móc, thiết bị đồng bộ và hiện đại phải có trong hồ sơ các dự án đầu tư, để các cơ quan thẩm định có căn cứ xem xét, đánh giá, thẩm định. Từ đó, cơ quan quản lý ngăn chặn ngay từ đầu các công nghệ, thiết bị cũ, lạc hậu, phi sinh thái, gây ô nhiễm môi trường. Mặt khác, cần quy trách nhiệm rõ ràng đối với chính quyền các cấp về dự án đầu tư tại các khu công nghiệp, nhất là đầu tư FDI với công nghệ cũ, công nghệ thấp, lạc hậu, hoạt động kém hiệu quả, gây ô nhiễm môi trường.

Theo Ts Nguyễn Thanh Thịnh và Ths Nguyễn Thanh Hà/ Nhân dân điện tử

Chuyển giao công nghệ sau 30 năm thu hút đầu tư FDI

Chuyển giao công nghệ sau 30 năm thu hút đầu tư FDI

Một trong những mục đích của thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chính là kỳ vọng được chuyển giao về công nghệ.

Trên phương diện một nước đang phát triển, việc nhận chuyển giao công nghệ mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng và sẽ góp phần phát triển về nội lực quốc gia, giúp nhanh chóng rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển so với việc tự nghiên cứu, thử nghiệm. Chuyển giao công nghệ cũng gần như là mục tiêu hàng đầu của các nước đang phát triển mỗi khi tìm kiếm đối tác nước ngoài. Tuy nhiên thực tế 30 năm qua (kể từ khi dòng vốn FDI chính thức đầu tiên vào Việt Nam), chúng ta đã đi được đến đâu trong hành trình vạn dặm đó?

30 năm thu hút FDI, 30 năm chuyển giao công nghệ?

Kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài được thông qua vào tháng 12-1987, tính đến nay Việt Nam có tỷ lệ tổng vốn đầu tư trực tiếp trên tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên đến 22-25% theo từng năm. Đây là một tỷ lệ tương đối cao và đi kèm với đó là kỳ vọng luồng sinh khí công nghệ mới sẽ theo nguồn vốn này chảy vào Việt Nam, giúp phát triển mặt bằng công nghệ Việt Nam.

Tuy nhiên, theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (2016), hiệu quả chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI của Việt Nam thấp ở mức đáng ngạc nhiên và có xu hướng ngày càng bị đẩy ra xa so với các quốc gia trong khu vực. Cụ thể, năm 2009, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 57 trên toàn cầu về tiêu chí này; nhưng đến năm 2014, Việt Nam đã tụt xuống ở vị trí thứ 103, giảm 46 bậc sau năm năm, thấp hơn nhiều so với vị trí các nước khu vực như Malaysia xếp thứ 13, Thái Lan thứ  36, Indonesia thứ 39, Campuchia thứ 44.

Nếu xét các chỉ số gián tiếp khác, kết quả cũng không mấy lạc quan.

Theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (2016), hiệu quả chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI của Việt Nam thấp ở mức đáng ngạc nhiên và có xu hướng ngày càng bị đẩy ra xa so với các quốc gia trong khu vực.

Theo số liệu năm 2015, năm ngành đóng góp tới 49% giá trị gia tăng của toàn ngành công nghiệp lại bao gồm ba ngành công nghệ thấp là công nghiệp chế biến, may mặc, giày da và hai ngành công nghệ trung bình là ngành khai khoáng, ngành thép.

Ngành công nghệ cao duy nhất tăng nhanh, đóng góp về giá trị gia tăng 12,2% là ngành điện tử, máy tính và sản phẩm quang học. Tuy mang tiếng là ngành công nghệ cao, thực tế, các công đoạn được thực hiện ở Việt Nam chỉ là lắp ráp, mang tính thủ công và chưa hề có yếu tố công nghệ cao.

Kết quả cũng thể hiện ở tốc độ tăng năng suất lao động của ngành công nghiệp Việt Nam: chỉ đạt khoảng 2,4%/năm (giai đoạn 2006-2015), tăng chậm hơn tốc độ tăng bình quân của nền kinh tế khoảng 3,9%.
Nếu so sánh chi tiết hơn nữa về số hợp đồng chuyển giao công nghệ với số dự án FDI thì gần 14.000 dự án FDI mới có khoảng 600 hợp đồng chuyển giao công nghệ (chiếm tỷ lệ 4,28%).

Phép so sánh tiếp theo là về chất lượng của các công nghệ được chuyển giao. Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hơn 80% doanh nghiệp FDI sử dụng công nghệ trung bình của thế giới, 14% ở mức thấp và lạc hậu, chỉ có 5-6% sử dụng công nghệ cao.

Nguyên nhân đến từ đâu?

Việc chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp FDI những năm qua không như mong muốn về cả số lượng lẫn chất lượng, mặc dù Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành từ năm 1987 đã nêu rõ “Việt Nam hoan nghênh và khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn và kỹ thuật vào Việt Nam”. Nguyên nhân nằm ở chính sách và môi trường thu hút FDI của chúng ta chưa đủ để khuyến khích và thúc đẩy các hoạt động chuyển giao công nghệ.

Đầu tiên, phải kể đến những hạn chế trong quá trình phân cấp đầu tư ở các địa phương. Tỉnh nào cũng xây dựng khu công nghiệp, đưa ra chính sách ưu đãi thu hút đầu tư, lấy số lượng bù chất lượng. Việc chạy theo thành tích cũng khiến thu hút đầu tư trở nên gấp gáp, chỉ để lấp đầy các khu công nghiệp hoặc có vốn để bổ sung vào chỉ tiêu vốn đầu tư. Giữa các địa phương, chính sách thu hút đầu tư cũng không đồng nhất, do vậy có thể xảy ra câu chuyện một số doanh nghiệp dù không đủ điều kiện để đầu tư ở địa phương này nhưng lại vẫn đầu tư được ở địa phương khác.

Tiếp theo, về phía các doanh nghiệp FDI, nhìn chung không có nhiều động lực để các doanh nghiệp này tiến hành chuyển giao các công nghệ hiện đại do chủ yếu chỉ đầu tư vào các ngành thâm dụng lao động và vốn. Đối với các sản phẩm công nghệ cao như điện tử, máy tính… các doanh nghiệp này cũng chỉ đặt nhà máy ở Việt Nam cho khâu gia công – vốn có giá trị thấp nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu – để tận dụng nguồn lao động giá rẻ. Thậm chí, một số doanh nghiệp còn dựa vào những lỗ hổng pháp lý để chuyển những dây chuyền sản xuất đã khấu hao hết và không được phép sử dụng tiếp ở nước sở tại sang Việt Nam để tiếp tục khai thác.

Cần bao nhiêu năm nữa để chuyển giao công nghệ?

Một chu trình chuyển giao công nghệ được xem là hoàn tất khi bên nhận chuyển giao làm chủ được công nghệ và có thể đi từ nền tảng đó tiếp tục tự nghiên cứu phát triển thêm. Xét trên phạm vi một quốc gia, hầu hết các nước có công nghệ đi sau sẽ nhập công nghệ qua kênh FDI rồi chuyển sang hình thức chuyển nhượng, sau đó chủ động nghiên cứu và phát triển (R&D), chủ động khai thác công nghệ, làm chủ và sáng tạo.

Hàn Quốc mất khoảng 40 năm để hoàn tất giai đoạn “bắt kịp” này, từ năm 1960 bắt đầu nhập công nghệ qua FDI dưới dạng trao tay đến những năm 1990 dần chuyển sang hình thức ODM (sản xuất thiết kế gốc) trong một số lĩnh vực.

Trong trường hợp của Thái Lan, chỉ trong một thời gian khá ngắn (từ năm 1986-1995), sự phát triển về vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý của các doanh nghiệp nội địa Thái đã phát triển chóng mặt, chiếm tới 72% tư bản trong nền kinh tế, trong đó khối FDI chỉ chiếm có 28%. Các doanh nghiệp FDI tại Thái Lan tuy vẫn giữ vai trò mũi nhọn về công nghệ và vốn nhưng bị buộc phải liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp nội địa trong hàng loạt khâu và quy trình sản xuất. Trong khi đó ba thập kỷ qua, chúng ta vẫn đang loay hoay ở bước đầu tiên, và chừng nào chu trình chuyển giao công nghệ của Việt Nam sẽ hoàn tất vẫn là một câu hỏi mở. Ba mươi năm nhìn lại, FDI đã đóng góp nhiều cho nguồn vốn xã hội, phát triển sản xuất, tăng thu ngân sách. Tuy nhiên mục tiêu dài hạn mà chúng ta nên hướng đến khi thu hút FDI vẫn là việc tiếp cận các công nghệ hiện đại, giúp nhanh chóng rút ngắn khoảng cách về công nghệ với các nền kinh tế phát triển.

Chức năng của truyền thông khi tổ chức sự kiện

Chức năng của truyền thông khi tổ chức sự kiện

Truyền thông trước sự kiện và sau sự kiện thường có mục đích thu hút khán giả tham gia sự kiện hoặc truyền đến khán giả thông điệp của công ty, thương hiệu.

Khác với việc quảng bá cho một sản phẩm thì công tác truyền thông cho một sự kiện đòi hỏi phải có 2 giai đoạn chủ chốt là trước và sau khi tổ chức sự kiện đó, tương ứng với các thời điểm đó là những công cụ để truyền thông phù hợp.

Công tác truyền thông trước khi sự kiện diễn ra.

1. Banner, Poster, Flyer, phướn dọc:

Đây là một trong những công cụ cơ bản và tiêu biểu nhất cho bất cứ chương trìnhh, vip events nào. Hình ảnh thông tin được thể hiện trên banner, poster flyer là hình ảnh cơ bản và thể hiện rõ nhất để đưa đến công chúng. Tùy tính chất chương trình đối tượng mà khu vực địa điểm để treo, dán phát banner poster và flyer sẽ khác nhau.

Việc phát flyer thường thực hiện ở nơi mà khán giả mục tiêu thường xuyên lui tới, ví dụ như một rockshow thường sẽ phát tờ rơi quảng bá sự kiện ở cổng trường đại học, quán cafe rock… trong khi một Event dành cho giới nữ từ 22 đến 28 tuổi có thể phát tờ rơi ở tòa nhà văn phòng, nhà văn hóa phụ nữ, câu lạc bộ thẩm mỹ nữ… Để đo lường hiệu quả, cần cố gắng ước đoán lưu lượng người ở địa điểm càng chính xác càng tốt và quản lý chặt chẽ cách thức làm việc của nhân viên phát tờ rơi.

Việc treo banner thường được thực hiện ở những tuyến đường chính có lượng lưu thông lớn và dễ dàng gây được sự chú ý của người qua đường. Tuy nhiên một số địa phương như Tp.HCM hiện nay khá hạn chế việc treo phướn dọc, bandrol, nhất là ở các quận trung tâm nên người làm Event cần nghiên cứu kỹ quy định về quảng cáo ngoài trời của địa phương mình làm quảng bá.

2. Phương tiện truyền thông đại chúng: (Báo giấy, truyền hình, radio…)

Đối với báo giấy, để tiếp cận đúng khán giả mục tiêu và để đảm bảo hiệu quả của việc truyền thông, chúng ta cần lưu ý tìm hiểu về đối tượng độc giả, độ phổ biến của tờ báo, số kỳ phát hành mỗi tháng và số bản phát hành cho mỗi kỳ. Và cuối cùng cũng là điều quan trọng nhất là tính chất chương trình. Cho dù bạn đang sử dụng bất cứ công cụ truyền thông nào thì việc lưu ý đến tính chất và đối tượng nhắm đến của chương trình cũng hết sức quan trọng.

Chi phí cho một lần lên hình phát sóng trong vài phút ngắn ngủi sẽ tốn kém rất nhiều chi phí cho nên truyền hình không phải là lựa chọn hàng đầu của các nhà tổ chức Event nếu những sự kiện họ tổ chức không phải là sự kiện quy mô hoặc đòi hỏi số lượng rất lớn người tham gia.

Radio là phương tiện quảng cáo rẻ hơn truyền hình và một số báo giấy, nhưng việc tiếp cận về mặt “nhìn” bị hạn chế, do đó người nghe sẽ không được nhìn thấy poster của sự kiện hay xem rõ thông tin về thời gian, địa điểm… nếu họ không nghe kịp. Tuy nhiên nó là phương tiện không nên bỏ qua nếu đối tượng tham gia sự kiện của bạn là người nghe trung thành của một chương trình nào đó trên radio. Chẳng hạn một sự kiện ca nhạc dành cho giới trẻ quảng cáo trước hoặc sau giờ phát sóng của XoneFM là phù hợp nhất, hay sự kiện dành cho doanh nhân cũng nên tận dụng phương tiện Radio vì nhiều doanh nhân có thói quen vừa lái xe hơi vừa nghe radio.

4. Phương tiện công nghệ số: (báo điện tử, social media, tin nhắn nhanh, SMS Marketing, Email Marketing…)

Đối với những sự kiện mà người tham dự mục tiêu thường dành nhiều thời gian lang thang trên mạng Internet thì nhà tổ chức thường rất chú trọng công tác truyền thông trên Internet.

Quảng cáo banner trên các website, gởi email thông báo về sự kiện hay đăng bài PR trên báo điện tử là những hình thức quen thuộc nhất.

Họ có thể lập riêng một microsite cho chương trình chỉ để thông báo về sự kiện sắp diễn ra của mình. Trên đó họ thường tổ chức các hoạt động tương tác, trò chơi, cuộc thi… để đoạt vé tham dự hay rò rỉ dần dần các thông tin hấp dẫn để khán giả mục tiêu luôn quan tâm theo dõi.

Đặc biệc là trong những năm gần đây với sự ra đời của các phương tiện Social Media thì việc lan truyền thông tin bằng những phương tiện này lại rất được ưa chuộng với hiệu quả cao và mức chi phí tổ chức, vận hành chỉ bằng vài phần trăm so với quảng cáo trên báo giấy và báo hình. Nhiều thương hiệu lập Fan Page thay vì sử dụng microsite, thực hiện một chiến dịch Viral Marketing trên Internet hoặc phối hợp với chủ một mạng xã hội nào đó để tổ chức những hoạt động trực tuyến thật hoành tráng trước khi đưa Event bắt đầu.

Ở một chương trình về môi trường do sinh viên của trường đại học HUFLIT tổ chức trong năm 2010, trong vòng 5 ngày đăng tải thông tin trên Facebook các bạn đã có thể thu hút trên 2000 lượt comment và ủng hộ và hơn 500 đơn đăng ký tham gia chương trình và các sinh viên này không tốn kém gì ngoài công sức lập và duy trì Fan page.

Việc lan truyền bằng phần mềm gởi tin nhắn nhanh (ở Việt Nam phổ biến nhất là Yahoo Messenger) có thể giúp lan truyền Event với tốc độ chóng mặt nếu như bạn có những hình thức kích thích sự chú ý của người tham dự mục tiêu, thôi thúc họ phải truyền đi link chứa thông điệp về Event của bạn.

SMS Marketing cũng là một hình thức tốt để quảng bá sự kiện của bạn mặc dù việc gởi spam tin nhắn rác trong thời gian gần đây có gây nhiều khó chịu cho người nhận. Hãy tưởng tượng một khán giả mục tiêu mở tin nhắn điện thoại, nhận được tin nhắn thông báo về Crazy Sales Event sắp diễn ra, họ có thể rất phấn khích và chuyển tiếp tin nhắn này cho nhiều bạn bè biết để tham dự. Database số điện thoại gởi tin nhắn càng sát với khoanh vùng khán giả mục tiêu của sự kiện, thì cơ hội nhận được những phản ứng tích cực về Event như vậy càng cao.

5. Hoạt động Activation

Hình thức “sơ khai” nhất của Activation quảng bá cho sự kiện có lẽ là những chiếc xe hơi, xe tải nhỏ dán poster kèm theo loa quảng cáo, giới thiệu những chương trình văn nghệ tạp kỹ chạy vòng vòng quanh các con đường trong những thập niên 90.

Ngày nay những hoạt động tương tác trực tiếp với người dùng như vậy, dù ở hình thức này hay hình thức khác cũng vẫn gây thu hút cho hàng chục ngàn người không kém gì việc treo bandrol, phướn… trên đường. Đôi khi ta bắt gặp một roadshow đi xe đạp ngoài đường với banner thông báo về sự kiện, một gian hàng tại siêu thị cho phép đổi sản phẩm lấy vé tham dự sự kiện hay một đoàn PG đi xe Jeep đến các quán Internet – Game online phát tờ rơi mời tham dự “Đại hội anh hùng” của họ, chắc chắn chúng ta, cũng như những khán giả khác, sẽ dành cho họ một sự chú ý rất lớn.

Công tác truyền thông sau tổ chức sự kiện

Đây là một trong những thao tác nhằm đem hình ảnh của chương trình quảng bá rộng rãi hơn từ đó tạo độ tin cậy về chương trình của mọi người và các công cụ thường được sử dụng nhất là báo – truyền hình – internet.

Một điều cần lưu ý là nếu việc truyền thông trước Event thường mang tính chất lôi kéo khách hàng mục tiêu tham gia Event thì việc truyền thông sau chương trình có nhiều mục đích khác như khiến người xem nhớ đến và có ấn tượng sâu sắc hơn về chương trình, về thông điệp cũng như thương hiệu của nhà tài trợ đối với người xem, người tham dự và những người quan tâm.

Vì vậy người tổ chức sự kiện cần lưu ý vấn đề này để đưa tin lên các phương tiện truyền thông phù hợp với mục đích truyền thông sau sự kiện. Chẳng hạn một chương trình văn nghệ lớn mang ý nghĩa cộng đồng, đối tượng người tổ chức mong muốn tham dự Event là những người có tấm lòng từ thiện cho nên trước sự kiện họ có thể truyền thông rộng rãi qua các kênh truyền thông có đối tượng đại chúng như HTV, báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên… để công chúng biết đến và tham dự. Tuy nhiên, việc tổng kết lại sự kiện và đăng lên báo đài sau chương trình có thể nhắm vào việc thông báo cho các đối tác, cổ đông của nhà tài trợ biết rằng nhà tài trợ của chúng ta đang thực hiện một nghĩa cử có ích cho cộng đồng. Vì vậy lúc này tin tổng kết sự kiện lại có thể được đăng trên các báo kinh doanh, doanh nhân, tài chính chứng khoán…

Theo trang thông tin Brandsvietnam.com
                                                                      

4 nguyên tắc quan trọng để truyền thông sự kiện

4 nguyên tắc quan trọng để truyền thông sự kiện

1. Xác định đúng đối tượng khách mời

Xác định đúng đối tượng thực sự rất quan trọng. Bạn phải dự kiến được danh sách khách mời cho sự kiện và xem xét dựa trên các yếu tố: Họ có đúng là đối tượng mà bạn muốn “target” cho sự kiện lần này không? Họ có nhu cầu tham dự thật sự không? Họ có sẵn sàng dành thời gian và chi phí để đến với bạn không? …

Hãy tự phác thảo cho mình một avatar của khách mời sự kiện bao gồm có các tiêu chí thật rõ ràng cụ thể như: lứa tuổi, giới tính, sở thích, những điều mà họ quan tâm thật sự hay thậm chí cả những nỗi băn khoăn, sợ hãi của họ – chính là giá trị mà bạn sẽ đem lại cho họ.

Ví dụ, khi bạn muốn tổ chức một sự kiện quảng bá một phần mềm quản lý khách hàng cho doanh nghiệp thì đối tượng bạn cần hướng đến là: Chủ doanh nghiệp có tập khách hàng lớn đang tìm kiếm giải pháp quản lý danh sách đó, đang muốn cải tổ – nâng cao hiệu suất kinh doanh, hoặc những người đã sử dụng phần mềm quản lý khách hàng nhưng chưa tối ưu được hiệu quả ….

2. Tận dụng tối đa kênh truyền thông Social Media

Mạng xã hội – kênh lan truyền phổ biến nhất hiện nay

Bạn có một kế hoạch chương trình thật sự thú vị? Bạn có một team tổ chức sự kiện bừng bừng nhiệt huyết? Bạn đã lên danh sách những vị khách mà bạn thật sự muốn họ có mặt trong event lần này? Hãy lên kế hoạch truyền thông nào!

Khi nói đến các kênh marketing để thu hút sự quan tâm, lan truyền, tạo ra tương tác thì social media là kênh truyền thông hàng đầu. Lượng cập nhật social media lớn nhất thuộc về quotes (trích dẫn) và các loại hình đa phương tiện (multimedia – như hình ảnh, video) được chia sẻ trong quá trình diễn ra sự kiện (chiếm 36% toàn bộ lượng tin cập nhật). Hãy tạo các bản tin có thể chia sẻ rộng rãi, surveys, polls hay thậm chí là các teaser, trailer, phát sóng trực tiếp (live stream)… chương trình của bạn.

Ngoài ra, vẫn nên vận hành song song các kênh PR truyền thống như dán poster, băng rôn, đặt standee ở những nơi tập trung đông người, tạo cho người tham dự không gian đẹp để quay phim chụp ảnh kỷ niệm, đưa thông tin sự kiện lên website chính thức của công ty và đảm bảo việc cập nhật thông tin sự kiện thường xuyên liên tục nhất có thể.

3. Các tương tác hậu sự kiện

Lắng nghe những phản hồi của khách mời giúp bạn trưởng thành, chuyên nghiệp hơn trong các sự kiện sau

Không nên bỏ qua công tác marketing hậu sự kiện. Bởi công tác truyền thông sự kiện thu hút khách mời tham dự là một quá trình xuyên suốt trước – trong – và sau sự kiện. Sự kiện kết thúc không có nghĩa là mọi tương tác chấm dứt hẳn. Thống kê cho thấy 18% tổng số bài viết trên mạng xã hội vẫn xoay quanh vấn đề sự kiện – nghĩa là gần như cứ 5 bài post về sự kiện thì có 1 bài post nói đến chương trình. Do vậy:

Đừng quên ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ của sự kiện, đưa lên các kênh thông tin để thấy được chương trình của bạn thú vị, hấp dẫn đến chừng nào. 

Hãy cổ vũ mọi người đăng lên trang cá nhân trên mạng xã hội những hình ảnh, video, hay bày tỏ trải nghiệm, cảm xúc vui vẻ của họ để mọi thứ được “go viral” – đây chính là cách marketing cực kỳ hiệu quả mà không tốn chi phí.

Lắng nghe ý kiến đánh giá khách mời. Bên cạnh những nhận định tích cực, đừng bỏ qua những phản hồi góp ý. Chính những điều này sẽ giúp bạn trưởng thành và chuyên nghiệp hơn trong những lần tổ chức sau!

4. Tạo cho khách mời cảm giác “thiệt thòi” nếu như họ không tham dự (FOMO)

Chia sẻ những bức ảnh hậu trường “hoành tráng”

FOMO (viết tắt của Fear of Missing Out) mô tả cảm giác thiệt thòi, thậm chí là “sợ hãi” khi bị bỏ lỡ một điều gì đó thực sự có giá trị. Đây là điều quan trọng nhất mà bạn nên dành sự quan tâm đặc biệt, quyết định khách mời có tham dự sự kiện của bạn hay không. Để tạo cảm giác FOMO, tăng động lực tham dự cho khách mời, thì các content thông tin của bạn nên tập trung vào những điều đặc biệt riêng có tại sự kiện:

Diễn giả, KOLs, khách mời nổi tiếng giàu kinh nghiệm. Được gặp gỡ giao lưu với người nổi tiếng – thật sự khách mời của bạn khó có thể chối từ!

Hình ảnh hậu trường, show cho khách mời sự chuẩn bị của bạn, để họ cảm thấy đây là một sự kiện hoành tráng, công phu không thể bỏ lỡ!

Giới hạn chỗ ngồi – những gì càng hiếm có, giá trị của chúng càng cao. Do vậy hãy cập nhật tình hình đăng ký tham dự với những Title kích thích người đọc, chẳng hạn  “Chỉ còn 30 chỗ cuối cùng cho những người nhanh tay đăng ký nhất!”  ….

Quà tặng sự kiện hấp dẫn: ai cũng thích được tặng quà. Và chắc chắn khách mời sẽ cảm thấy vô cùng thích thú và bất ngờ khi được nhận một món quà từ sự kiện có in logo hoặc slogan ý nghĩa. Quà tặng hấp dẫn sẽ thúc đẩy động lực tham dự sự kiện của mọi khách mời. Được tặng những sản phẩm nhỏ xinh và hữu ích, họ sẽ luôn mang theo sử dụng bên mình. Món quà sẽ nhắc nhở họ luôn nhớ về thương hiệu công ty bạn, những kỷ niệm khó quên của sự kiện. Và khi người thân, bạn bè, đồng nghiệp được họ giới thiệu về món quà này thì sao nhỉ? Quà tặng sự kiện luôn là một cách marketing, branding cực kỳ hiệu quả!

Theo trang thông tin Quatang3a.com
                                                                                 (Truyền thông – Sự kiện)