Tin tức

Trung tâm Giao dịch CNTT và TT Hà Nội nỗ lực phòng, chống dịch Sars – Covid 2.

Trước những diễn biến nhanh, phức tạp của dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng vi rút Corona – Sars – Covid 2, Trung tâm giao dịch Công nghệ thông tin và Truyền thông Hà Nội đã có những biện pháp đồng bộ, kịp thời trong công tác phòng, chống dịch.

Trung tâm đã tổ chức 02 đợt (đợt 1: ngày 06/02/2020 và đợt 2: ngày 19/02/2020) phun thuốc khử trùng diệt khuẩn đồng bộ các khu vực công cộng, nơi sinh hoạt chung, hành lang và cầu thang toàn bộ tòa nhà. Bố trí nước rửa tay sát khuẩn ở các cửa ra vào, đặt biển chỉ dẫn và hướng dẫn trực tiếp các công dân, tổ chức tới làm việc có ý thức đeo khẩu trang, rửa tay sát khuẩn trước khi vào tòa nhà.

Thực hiện rủa tay sát khuẩn trước khi vào tòa nhà. Ảnh: Tuấn Anh

Phòng Hành chính – Tổng hợp đã sát sao theo dõi tình hình di chuyển công tác của các đơn vị đang hoạt động tại tòa nhà, thống kê hoạt động của người nước ngoài, kịp thời nắm bắt tình hình di chuyển để sẵn sàng hợp tác với các đơn vị chức năng khi cần thiết. Đặc biết bố trí nước rửa tay sát khuẩn phục vụ nhu cầu của tất cả mọi người trước khi vào tòa nhà giao dịch công việc.

Phòng Kỹ thuật hạ tầng tòa nhà đã tăng cường công tác vệ sinh tại các khu vực công cộng như khu vệ sinh, thang máy,… Công tác vệ sinh được đặc biệt chú ý nhằm giảm thiểu tối đa nguy cơ lây lan của dịch bệnh.

Phòng Thông tin – Sự kiện tích cực phối hợp các phòng ban chuyên môn tuyên truyền về dịch thông qua nhiều hình thức khác nhau: Dán poster tại thang máy, dựng standee tại sảnh tầng 1, viết tin bài tuyên truyền trên website của Trung tâm, tổng hợp thông tin báo chí về dịch bệnh và công tác phòng chống dịch của thành phố Hà Nội, đồng thời cập nhật hàng ngày lên Slack để cán bộ, nhân viên Trung tâm nắm bắt thông tin kịp thời, đặc biệt là những chỉ đạo của Thành phố xung quanh việc phòng chống dịch bệnh.

Poster được dán tại thang máy của tòa nhà. Ảnh: Tuấn Anh

Hiện tại, dịch Sars – Covid 2 đang tiếp tục diễn biến phức tạp, Trung tâm Giao dịch Công nghệ thông tin và truyền thông tiếp tục duy trì các hoạt động đảm bảo công tác phòng chống dịch đảm bảo kịp thời, hiệu quả cao.

Thanh Hiền

63/63 tỉnh, thành phố đã kết nối Cổng Dịch vụ công Quốc gia do VNPT xây dựng

Theo số liệu tính từ ngày 9/12/2019 đến ngày 13/2/2020, trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia do VNPT xây dựng đã có 9/22 Bộ, cơ quan 63/63 tỉnh, thành phố kết nối, tích hợp; 51.780 tài khoản đăng ký với trên 11,4 triệu lượt truy cập…

Ngày 9/12/2019, Cổng Dịch vụ công Quốc gia (dichvucong.gov.vn) đã chính thức được khai trương. Cổng Dịch vụ công Quốc gia là dấu ấn quan trọng trong mục tiêu Chính phủ lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ và phương châm “lấy người dân, doanh nghiệp là trung tâm phục vụ”, không bỏ ai lại phía sau trong quá trình cải cách. Cổng DVCQG là đầu mối giúp công khai, minh bạch các thông tin liên quan về thủ tục hành chính và cung cấp, hỗ trợ thực hiện dịch vụ công theo nhu cầu sử dụng, phù hợp với từng đối tượng. Cổng DVCQG lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo chất lượng và hiệu quả phục vụ của cán bộ, công chức và cơ quan thẩm quyền trong cung cấp dịch vụ công và đáp ứng mục tiêu, yêu cầu cải cách hành chính, nhất là cắt giảm thủ tục hành chính thông qua việc ứng dụng CNTT.

Tính ưu việt của Cổng Dịch vụ công Quốc gia thể hiện ở việc giảm thiểu tối đa thời gian khai báo thông tin cho người dùng. Theo đó, người dân, doanh nghiệp chỉ cần đăng ký 01 tài khoản tại địa chỉ dichvucong.gov.vn  để tra cứu thông tincũng như nộp hồ sơ trực tuyến các thủ tục hành chính và dịch vụ công của các Bộ, ngành, địa phương được tích hợp trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia. Thông tin tài khoản đăng ký trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia được lưu trữ và liên thông với các trang Dịch vụ công khác. Nhờ đó, cơ sở dữ liệu chuyên ngành đã được tích hợp như đăng ký kinh doanh, thuế, bảo hiểm… sau khi cá nhân, tổ chức đã cung cấp một lần thành công khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến, sẽ được tái sử dụng khi thực hiện đăng ký thủ tục lần sau và kết quả giải quyết thủ tục hành chính được công nhận tính pháp lý trên toàn hệ thống.

Người dân, doanh nghiệp chỉ cần đăng ký 01 tài khoản tại địa chỉ dichvucong.gov.vn  để tra cứu thông tincũng như nộp hồ sơ trực tuyến các thủ tục hành chính và dịch vụ công của các Bộ, ngành, địa phương được tích hợp trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia
Người dân, doanh nghiệp chỉ cần đăng ký 01 tài khoản tại địa chỉ dichvucong.gov.vn  để tra cứu thông tincũng như nộp hồ sơ trực tuyến các thủ tục hành chính và dịch vụ công của các Bộ, ngành, địa phương được tích hợp trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia

Cổng được tích hợp công nghệ trí tuệ nhân tạo, cho phép trả lời tự động các thắc mắc của người dân. Ngoài ra, với chức năng tiếp nhận, xử lý phản ánh trong giải quyết thủ tục hành chính, Cổng cũng sẽ phân tích, tổng hợp, phân hạng kết quả đánh giá việc giải quyết thủ tục hành chính của các bộ, ngành, địa phương. Với việc ra mắt Cổng dịch vụ công quốc gia, người dân, doanh nghiệp chỉ cần đăng ký và ghi nhớ một tài khoản để truy cập hệ thống, tra cứu thông tin, nộp hồ sơ trực tuyến, tra cứu trạng thái, hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính, thông tin về cơ quan cung cấp dịch vụ công mà không bị phụ thuộc vào thời gian và giới hạn địa giới hành chính.

Với những lợi ích đem lại cho người dân và doanh nghiệp, số liệu tính từ ngày 9/12/2019 đến ngày 13/2/2020, trên cổng dịch vụ công quốc gia đã có 9/22 Bộ, cơ quan, 63/63 tỉnh, thành phố kết nối, tích hợp; 51.780 tài khoản đăng ký với trên 11,4 triệu lượt truy cập…

Với kinh nghiệm của một nhà cung cấp giải pháp công nghệ số hiện đại, VNPT đã được lựa chọn đồng hành cùng Văn phòng Chính phủ xây dựng hệ thống Cổng dịch vụ Công quốc gia. Xác định việc triển khai Cổng Dịch vụ công Quốc gia là một địa chỉ duy nhất kết nối liên thông với toàn bộ các cổng dịch vụ công của các Bộ ngành và địa phương nhằm phục vụ tra cứu và thực hiện các dịch vụ công trên không gian mạng,  VNPT đã dành nhiều nguồn lực tập trung đáp ứng các yêu cầu về băng thông kết nối, vấn đề an toàn an ninh mạng và coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà Thủ tướng Chính phủ giao cho Tập đoàn VNPT. Hệ thống hạ tầng Cổng dịch vụ công quốc gia được triển khai trên hạ tầng VNPT-IDC: Trung tâm dữ liệu đạt tiêu chuẩn quốc tế Tier3 kết nối 63/63 Tỉnh thành trên toàn quốc và kết nối với quốc tế với tổng dung lượng chiếm 70% băng thông quốc tế tại Việt Nam.

Không chỉ được Chính phủ lựa chọn xây dựng Cổng DVCQG, mới đây, Tập đoàn VNPT còn là 1 trong 04 đơn vị được lựa chọn cung cấp dịch vụ Thanh toán điện tử trên hệ thống Cổng Dịch vụ công quốc gia. Cụ thể, Trung tâm VNPT Fintech thuộc Tập đoàn VNPT đã đưa các tính năng dịch vụ VNPT Pay vào cung cấp cho Cổng DVCQG gồm: thanh toán phí của các dịch vụ công bằng ví VNPT Pay và cổng thanh toán (thẻ, tài khoản ngân hàng nội địa, thẻ quốc tế của tất cả các ngân hàng).

Hiền Mai/vnmedia

Thách thức xử lý cạnh tranh trong thương mại điện tử

Thương mại điện tử đang phát triển mạnh và đặt ra nhiều thách thức với nhà quản lý, trong đó có vấn đề xử lý cạnh tranh trong lĩnh vực này đang ngày càng phức tạp.

trong thời gian gần đây, thương mại điện tử tại Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng. Nhưng đi liền với đó, các vấn đề quan ngại về cạnh tranh trong lĩnh vực này cũng ngày càng trở nên phức tạp hơn

Trong thời gian gần đây, thương mại điện tử tại Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng. Nhưng đi liền với đó, các vấn đề quan ngại về cạnh tranh trong lĩnh vực này cũng ngày càng trở nên phức tạp hơn

Theo ông Trịnh Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng, Bộ Công Thương thì, trong thời gian gần đây, thương mại điện tử tại Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng. Nhưng đi liền với đó, các vấn đề quan ngại về cạnh tranh trong lĩnh vực này cũng ngày càng trở nên phức tạp hơn.

Thương mại điện tử – Việt Nam đã hội tụ đủ

Để giảm áp lực cạnh tranh, một số doanh nghiệp đã thực hiện những hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh, làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường cạnh tranh, gây thiệt hại cho người tiêu dùng, đồng thời, tạo ra thách thức cho các cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh và thương mại điện tử.

Bà Phạm Quế Anh, chuyên gia tư vấn độc lập nhấn mạnh, mô hình kinh doanh mới trong thương mại điện tử hiện nay đó là giữa người bán và người mua là nền tảng cung cấp dịch vụ trung gian kết nối (aggregator platform). Bản thân các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian kết nối họ không trực tiếp sản xuất sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ, nhưng họ kết nối doanh nghiệp với người tiêu dùng.

Điển hình như Grab, GoViet, Agoda, Airbnb… Hiện 5 lĩnh vực thương mại điện tử cạnh tranh năng động nhất thế giới đã có ở Việt Nam: lĩnh vực đặt phòng, đặt vé máy bay, vận chuyển hành khách bằng đường bộ, mỹ phẩm và các sản phẩm làm đẹp, thời trang.

Cần áp dụng Luật linh hoạt

Mặc dù vậy, bà Quế Anh cũng thừa nhận, những vấn đề cạnh tranh trong thương mại điện tử giống như những vấn đề cạnh tranh trong hàng hóa bình thường, song nó có những đặc điểm mới cần lưu ý, xem xét một cách cẩn trọng để áp dụng Luật cạnh tranh một cách hiệu quả nhất.

Đó là thỏa thuận theo chiều dọc. Thỏa thuận này giúp tăng hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy cạnh tranh. Song một số dạng thỏa thuận theo chiều dọc trong thương mại điện tử có thể tác động hạn chế cạnh tranh: thỏa thuận phân phối có chọn lọc, thỏa thuận duy trì giá bán, điều khoản đảm bảo ngang giá – giết chết cạnh tranh về giá trên thị trường.

Bên cạnh đó, thỏa thuận theo chiều ngang giữa các đối thủ cạnh tranh với nhau về giá, sản lượng, thị trường hay trong đấu thầu được coi là luôn có tác động hạn chế cạnh tranh và bị cấm tuyệt đối bởi Luật cạnh tranh hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Một số dạng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang trong thương mại điện tử được bà Quế Anh đưa ra như việc sử dụng các công cụ, phần mềm giám sát giá và các thuật toán định giá; thỏa thuận ấn định giá thông qua các nền tảng thương mại điện tử… theo đó, các doanh nghiệp biết được ngay giá của đối thủ cạnh tranh thế nào để điều chỉnh phù hợp dẫn tới triệt tiêu cạnh tranh về giá trên thị trường.

thách thức lớn nhất với cơ quan quản lý cạnh tranh là có thể vụ tập trung kinh tế đó không phải tạo ra vị trí hay doanh nghiệp thống lĩnh trong thị trường hiện tại mà có thể thị trường thống lĩnh đó chưa xuất hiện ngay bây giờ mà nó xuất hiện trong tương lai.

Thách thức lớn nhất với cơ quan quản lý cạnh tranh là có thể vụ tập trung kinh tế không phải tạo ra vị trí hay doanh nghiệp thống lĩnh trong thị trường hiện tại mà có thể thị trường thống lĩnh đó chưa xuất hiện ngay bây giờ mà nó xuất hiện trong tương lai.

Ngoài ra là hành vi lạm dụng vụ trí thống lĩnh, vị trí độc quyền. Theo bà Quế Anh, việc xác định sức mạnh thị trường và vị trí thống lĩnh thị trường trong thương mại điện tử có nhiều điểm mới đối với cơ quan cạnh tranh. Như xác định thị trường liên quan thế nào với các thị trường nhiều bên; vai trò của dữ liệu trong xác định vị trí thống lĩnh thị trường; vấn đề hiệu ứng mạng lưới. Những hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trong thương mại điện tử như hành vi bán kèm, cung ứng hàng hóa, dịch vụ theo gói; hành vi bán dưới giá thành toàn bộ để loại bỏ đối thủ cạnh tranh; hành vi định giá phân biệt với các đối tượng khách hàng, người tiêu dùng khác nhau; dùng các chương trình khuyến mại đối với khách hàng trung thành để hạn chế cạnh tranh, duy trì vị trí thống lĩnh.

Không thể không nói tới vấn đề tập trung kinh tế trong thương mại điện tử, vì phức tạp hơn nhiều so với giao dịch thông thường. Theo chuyên gia Quế Anh, thách thức lớn nhất với cơ quan quản lý cạnh tranh là có thể vụ tập trung kinh tế đó không phải tạo ra vị trí hay doanh nghiệp thống lĩnh trong thị trường hiện tại mà có thể thị trường thống lĩnh đó chưa xuất hiện ngay bây giờ mà nó xuất hiện trong tương lai.

Do đó, cơ quan cạnh tranh phải đoán định được đường hướng phát triển của đổi mới sáng tạo để biết được trong tương lai liệu có thể có một thị trường mới hay không, vụ tập trung kinh tế hiện tại liệu có tạo ra một doanh nghiệp lớn trong tương lai hay không? Điển hình, một số vụ đặt ra những thách thức với cơ quan cạnh tranh trên thế giới như vụ Microsoft mua lại Skype, Facebook mua lại WhatsApp – đây là những vụ Ủy ban cạnh tranh châu Âu cho phép họ mua nhưng không nghĩ rằng một thời gian sau đó xuất hiện thị trường mới, xuất hiện những vấn đề cạnh tranh mới không lường trước được.

Vì vậy, vị chuyên gia này cho rằng, Luật Cạnh tranh 2018 của Việt Nam có thể xử lý được những cạnh tranh này nhưng thách thức với cơ quan cạnh tranh là làm thế nào để áp dụng Luật đó một cách linh hoạt nhất, cân nhắc tới tác động phát huy hiệu quả kinh tế của các thỏa thuận ngang và dọc. Đồng thời, đánh giá được tác động của các hành vi đơn phương, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường…

Nguyễn Minh/Diễn đàn doanh nghiệp

Ứng dụng hỗ trợ khẩn cấp cho lao động tại vùng dịch nước ngoài

Trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, để hỗ trợ khẩn cấp cho người lao động (NLĐ) đang làm việc ở nước ngoài, đặc biệt là NLĐ đang làm việc tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và CHLB Đức, Trung tâm Lao động ngoài nước (Colab; thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) vừa triển khai ứng dụng kết nối NLĐ (COLAB SOS).

Đối với NLĐ chưa có dữ liệu cá nhân do Colab quản lý, đưa vào hệ thống, vẫn có thể tải và cài đặt ứng dụng trên CH Play hoặc App Store từ điện thoại cá nhân, để theo dõi thông tin, cập nhật tình hình dịch bệnh Covid-19 trên ứng dụng COLAB SOS trên mục “Thông báo”. Đối với NLĐ đã có dữ liệu, sau khi đăng nhập hệ thống, có thể gửi yêu đề nghị hỗ trợ thông thường và đề nghị hỗ trợ khẩn cấp để được trợ giúp theo các bước sau: Tên đăng nhập: sử dụng số hộ chiếu dùng khi xuất cảnh. Mật khẩu đăng nhập: sử dụng số hộ chiếu dùng khi xuất cảnh. Sau khi đăng nhập thành công, NLĐ có thể thực hiện cài đặt cập nhật các nội dung: số điện thoại; lựa chọn câu hỏi bảo mật và trả lời; thay đổi mật khẩu đăng nhập. Trong trường hợp cần hỗ trợ, NLĐ chọn chức năng “Hỗ trợ”. Điền đầy đủ các thông tin số điện thoại, vị trí hiện tại và nội dung đề nghị hỗ trợ, bấm nút mũi tên để gửi nội dung. Khi cần trợ giúp khẩn cấp, NLĐ chọn chức năng “SOS”, điền đầy đủ các thông tin số điện thoại, vị trí hiện tại và ngắn gọn nội dung đề nghị hỗ trợ khẩn cấp. Sau đó, bấm và giữ nút SOS trong 5 giây đếm ngược để gửi nội dung yêu cầu hỗ trợ khẩn cấp. “Sau gần 1 ngày đưa ra ứng dụng, đến chiều 26-2, đã có hơn 4.000 NLĐ đăng ký kết nối. Trung tâm sẽ thường trực 24/24 giờ để tiếp nhận thông tin, phối hợp với các cơ quan liên quan hỗ trợ khẩn cấp đối với NLĐ” – ông Hà Xuân Tùng, Giám đốc Colab, cho biết.

Ứng dụng hỗ trợ khẩn cấp cho lao động tại vùng dịch nước ngoài - Ảnh 1.

Ứng dụng COLAB SOS do Trung tâm Lao động ngoài nước triển khai. Ảnh: GIANG NAM

l Ông Lê Minh Tấn, Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TP HCM, cho biết tính đến ngày 25-2, lao động nước ngoài đến làm việc trên địa bàn TP có 685 người có quốc tịch Hàn Quốc, 310 người đến từ Trung Quốc và 458 người từ Nhật Bản, 279 người ở Đài Loan. Trước diễn biến phức tạp của tình hình dịch bệnh Covid-19, TP đã tạm dừng cấp phép cho lao động Trung Quốc đến TP HCM làm việc. Mới đây, UBND TP cũng đã đồng ý tạm thời dừng cấp phép cho lao động nước ngoài đến từ vùng dịch và người lao động có quốc tịch Hàn Quốc đến từ tỉnh Daegu và Gyeongsang (Hàn Quốc).Tin-ảnh: K.An – G.Nam

Việt Nam sẽ là một quốc gia công nghệ số

Nhìn nhận và đánh giá cao mục tiêu trở thành một quốc gia số của Việt Nam, doanh nghiệp phần mềm đến từ Mỹ – TIBCO đã lựa chọn Việt Nam là điểm đến, mới đây, TIBCO đã gia tăng sự hiện diện ở Việt Nam với lễ khai trương Văn phòng Kỹ thuật mới nhất của mình tại Hà Nội.

Chia sẻ về quyết định gia tăng sự hiện diện tại thị trường Việt Nam, ông Erich Gerber, Phó Chủ tịch cấp cao TIBCO Software nhận định, đang là thời điểm hoàn hảo để Việt Nam có thể nắm bắt và thực hiện những cơ hội mới từ chuyển đổi số. Theo đại diện đến từ TIBCO, Việt Nam hiện là một trong những thị trường đầu tư hấp dẫn nhất với chỉ số đổi mới toàn cầu liên tục tăng lên, cũng là quốc gia có nền kỹ thuật số đang phát triển.

Trong năm 2020, TIBCO đã đặt mục tiêu tăng cường sự hiện diện và đưa công nghệ hàng đầu thế giới. Theo đại diện của TIBCO, chính phủ Việt Nam đã đặt ra nhiệm vụ số hóa của đất nước với mục tiêu cho tới năm 2025, 50% doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ chuyển đổi sang nền tảng kỹ thuật số và phát triển ít nhất 80.000 doanh nghiệp công nghệ số. Đây chính là cơ hội để TIBCO phát triển tại thị trường Việt với tinh thần “Hợp tác – Chìa khóa để Hiện đại hóa Việt Nam với Chuyển đổi Số”.

văn phòng Kỹ thuật mới nhất tại Hà Nội của TIBCO hướng đến chia sẻ kiến thức và chuyên môn với các công ty tại Việt Nam về quản lý dữ liệu, cách tuân thủ các quy định về bảo mật và quản lý dữ liệu...
Văn phòng Kỹ thuật mới nhất tại Hà Nội của TIBCO hướng đến chia sẻ kiến thức và chuyên môn với các công ty tại Việt Nam về quản lý dữ liệu, cách tuân thủ các quy định về bảo mật và quản lý dữ liệu…

Đánh giá về tiềm năng phát triển CNTT của Việt Nam, đại diện TIBCO cho hay, dân số Việt Nam hiện nay vào khoảng 100 triệu người và nhiều người là “những người mới gia nhập tầng lớp trung lưu”. Điều này có nghĩa TIBCO nhận thấy có nhu cầu và cơ hội đáng kể dành cho các tổ chức dịch vụ Tài chính và Bảo hiểm. Bên cạnh đó, người dân Việt Nam có xu hướng sử dụng điện thoại di động rất nhiều, với tỷ lệ đăng kí sử dụng điện thoại di động đang ở mức đáng kinh ngạc là 1:1,5 so với tỉ lệ trên thế giới là 1:0,75. Điều này thể hiện nhu cầu cao trong thị trường tiêu dùng.

Đồng thời, cho thấy rằng các doanh nghiệp và tổ chức cung cấp dịch vụ tại Việt Nam đang đối mặt với một thử thách đáng kể nhằm phục vụ người tiêu dùng một cách chủ động và cá nhân hóa. Việt Nam cũng là quốc gia có một số lượng lớn các trường đại học CNTT nơi cung cấp nền giáo dục chất lượng cao về công nghệ và khoa học dữ liệu. Những xu hướng này, tất nhiên, có ảnh hưởng lớn đến công nghệ và làm tăng tính phổ biến cho thị trường CNTT tại Việt Nam. Đó chính là những lý do để TIBCO nhận định ngành CNTT còn tiếp tục phát triển mạnh mẽ và đột phá trong thời gian tới.

Được biết, văn phòng Kỹ thuật mới nhất tại Hà Nội của TIBCO hướng đến chia sẻ kiến thức và chuyên môn với các công ty tại Việt Nam về quản lý dữ liệu, cách tuân thủ các quy định về bảo mật và quản lý dữ liệu cũng như cách sử dụng sự thay đổi trong quản lý dữ liệu tổng thể để thực thi và hiện thực hóa lợi nhuận kinh doanh một cách hiệu quả hơn. TIBCO cũng đặt mục tiêu hợp tác với các tổ chức tài chính và học thuật uy tín nhất để tìm kiếm nhân sự tài năng cho các chương trình tuyển dụng và thực tập của công ty tại Việt Nam trong tương lai.

Hiền Mai

VCS xây dựng hệ sinh thái giải pháp an toàn thông tin

VCS xây dựng thành công hệ sinh thái giải giải pháp an toàn thông tin do các chuyên gia trong nước nghiên cứu và phát triển.

VCS xây dựng thành công hệ sinh thái giải giải pháp an toàn thông tin. Ảnh: Hằng Trần/BNEWS/TTXVN

Công ty An ninh mạng Viettel (Viettel Cyber Security – VCS) là thành viên của Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội (Viettel) đã hình thành Trung tâm Giám sát và Phản ứng trên không gian mạng  trên phạm vi toàn cầu, có khả năng phát hiện, phân tích, phản ứng, ngăn chặn và điều tra truy vết các sự cố về an toàn thông tin

Đồng thời, đảm bảo an toàn thông tin cho các hệ thống công nghệ thông tin. Tại Việt Nam, VCS là công ty an toàn thông tin có hệ sinh thái giải pháp do chính các chuyên gia an toàn thông tin tại Viettel nghiên cứu và phát triển.

Ông Nguyễn Sơn Hải – Giám đốc Công ty An ninh mạng Viettel cho biết, việc thúc đẩy mạnh mẽ lĩnh vực anh ninh mạng không chỉ theo xu thế thị trường, mà nằm trong chiến lược chuyển đổi từ nhà khai thác viễn thông sang nhà cung cấp dịch vụ số của Tập đoàn Viettel, nhằm thực hiện sứ mệnh kiến tạo xã hội số.

“VCS muốn trở thành nhà cung cấp dịch vụ an ninh mạng lớn nhất Việt Nam, với con người Việt, quy trình Việt và sản phẩm Việt để cung cấp cho phần lớn các doanh nghiệp/tổ chức lớn tại Việt Nam và hạ tầng trọng yếu của quốc gia”- Ông Nguyễn Sơn Hải nói.

Đến nay, Công ty An ninh mạng đã phát hiện hơn 100 lỗ hổng zero-day – số lượng lớn nhất trong số các công ty an ninh mạng ở Việt Nam; trong đó, nhiều lỗ hổng đã được Google, Facebook, Microsoft vinh danh và trao thưởng.

Khách hàng tra cứu dịch vụ của Viettell. Ảnh: Hằng Trần/BNEWS/TTXVN

“VCS muốn trở thành nhà cung cấp dịch vụ an ninh mạng lớn nhất Việt Nam, với con người Việt, quy trình Việt và sản phẩm Việt để cung cấp cho phần lớn các doanh nghiệp/tổ chức lớn tại Việt Nam và hạ tầng trọng yếu của quốc gia”, ông Nguyễn Sơn Hải nói.


Với đội ngũ hơn 200 chuyên gia; trong đó, có nhiều kỹ sư được công nhận đẳng cấp quốc tế (Top 3 BugCrowd, Top 66/100 nhà nghiên cứu bảo mật Facebook, 41/100 nhà nghiên cứu bảo mật Microsoft…), Công ty An ninh mạng Viettel đã xây dựng được hệ sinh thái sản phẩm về an ninh mạng, cung cấp dịch vụ cho Chính phủ, bộ, ngành, doanh nghiệp lớn như: hệ sinh thái các sản phẩm giám sát và phản ứng an toàn thông tin; hệ sinh thái các giải pháp bảo vệ website trên nền điện toán đám mây, hệ sinh thái các sản phẩm chống tấn công có chủ đích…; giải quyết nhiều sự cố về an toàn thông tin cho các Tập đoàn lớn như Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), SunGroup…

Trước bối cảnh hầu hết các công ty công nghệ đều phát triển dịch vụ số, an ninh mạng là một thị trường đầy tiềm năng ở cả Việt Nam và trên thế giới.

Theo đánh giá của Ken Research, năm 2020, thị trường an toàn thông tin Việt Nam sẽ đạt 132,04 triệu USD, tương đương với 2.700 tỷ VND. Năm 2019-2023, thị trường Việt Nam sẽ tăng trưởng tới 14% mỗi năm, cao hơn mức 10,6% trung bình toàn cầu./.

Hằng Trần/BNEWS/TTXVN

Tăng chính sách bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng

Cần những chính sách đặc biệt để bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng, đó là vấn đề đang được đặt ra, đặc biệt khi Đoàn giám sát của Quốc hội giám sát về vấn đề này.

Tỷ lệ trẻ sử dụng internet tăng

Tuy chưa có con số thống kê chính thức về số lượng trẻ em truy cập internet, nhưng theo ghi nhận của Bộ TT&TT, số lượng trẻ em sử dụng internet đang ngày càng tăng nhanh, cơ cấu độ tuổi trẻ em tiếp cận internet ngày càng giảm.

Thống kê của tổ chức thế giới cho thấy, trẻ từ 3 – 4 tuổi đã tiếp cận với internet, những năm gần đây, độ tuổi 3 – 4 tiếp cận internet tăng gấp 2 lần và tiến bằng so với độ tuổi từ 5 – 10 tuổi.

Thời gian truy cập internet ngày càng tăng, trung bình một người dành 6,5 giờ/ngày; trong đó, 2 giờ 30 phút truy cập mạng xã hội. 90% trẻ em cũng truy cập mạng xã hội và các ứng dụng có video. Các kênh truyền thông có lợi nhuận cao nhất là kênh thông tin dành cho thanh thiếu niên và trẻ em.

Thời gian qua, việc truyền thông chính sách, pháp luật, xây dựng cảnh báo các nguy cơ cần ngăn ngừa xâm hại trẻ em trên không gian mạng được quan tâm. Điển hình như Bộ TT&TT đã ban hành thông tư quy định về tỷ lệ nội dung, thời điểm, thời lượng dành cho trẻ em và cảnh báo nội dung không phù hợp với trẻ em trên báo nói, báo hình, báo in, báo điện tử và xuất bản phẩm.

Trước thực tế nhiều DN đang mở rộng kinh doanh nhưng lại chưa có biện pháp bảo vệ trẻ em hoặc lúng túng trong việc ngăn chặn thông tin không có lợi với trẻ em, Bộ cũng đã thực hiện các biện pháp phòng, chống, gỡ bỏ thông tin độc hại, không có lợi với trẻ em trên mạng…

Đại diện Hội bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam cho rằng, không thể phủ nhận vai trò của công nghệ số đối với đời sống của trẻ em. Nó mang lại cơ hội học tập và giáo dục cho trẻ em, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa; cho phép trẻ em tìm hiểu thông tin, kiến thức, giải trí mà chúng quan tâm chỉ bằng máy tính, điện thoại thông minh; công nghệ số cũng mang đến cơ hội kinh tế bằng cách cung cấp cho những người trẻ tuổi cơ hội đào tạo và dịch vụ phù hợp với công việc, tạo ra các loại công việc mới… Nhưng trước xu hướng phát triển thông tin là tất yếu, với nguồn thông tin phức tạp, đa dạng hơn, việc quản lý các kênh thông tin cho trẻ em vẫn đang là thách thức.

Đặc biệt, công nghệ thông tin phát triển cộng với bất cập trong quản lý trang mạng xã hội đang khiến tình trạng xâm hại tình dục trẻ em qua mạng có chiều hướng gia tăng, điều đáng nói là trên thực tế, rất ít trường hợp xâm hại tình dục trẻ em như thế này bị đưa ra xử lý.

Sớm hoàn thiện chính sách

Cần những chính sách đặc biệt để bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng, đó là vấn đề được đặt ra. Trong đó, các ý kiến cho rằng, trẻ em là nạn nhân dễ bị lừa nhất trên môi trường mạng và để lại hậu quả rất nghiêm trọng. Do vậy, Chính phủ, Bộ TT&TT cần có những phương pháp và chính sách như có thể cho ra đời các sản phẩm truyền thông riêng cho gia đình và trẻ em để cảnh báo nguy cơ sẽ là nạn nhân của mạng xã hội nhất là trẻ em. Tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội có các mô hình truyền thông riêng cho trẻ em như phiên tòa giả định hay truyền thông tại cộng đồng cho các gia đình và trẻ em.

Đặc biệt, biện pháp căn cơ phải là tuyên truyền để giúp trẻ em có những kỹ năng tốt nhất, để trở thành công dân của thế giới công nghệ số, truy cập và sử dụng mạng an toàn. Bên cạnh đó DN cần tăng cường rà soát, cung cấp phần mềm cho phụ huynh để kiểm soát việc sử dụng internet với trẻ em; nghiên cứu giải pháp khi đăng ký tài khoản trên mạng phải có sự đồng ý của cha mẹ; có biện pháp cấm DN lấy thông tin của trẻ em.

Kinh tế & Đô thị

Robot tự động hóa quy trình: Công cụ cải thiện năng lực quản lý

RPA – Robot tự động hóa quy trình – là một công cụ có thể giúp các nhà sản xuất giải phóng nguồn nhân lực sử dụng cho các nhiệm vụ lặp đi lặp lại. RPA mô phỏng sự tương tác giữa con người với máy tính, ví dụ như tự động nhập các số liệu vào bảng tính, cập nhật hệ thống CRM hay đăng tải lên website.

Việc triển khai RPA thường giúp doanh nghiệp tiết kiệm từ 20% đến 30% chi phí sản xuất bằng cách cải thiện quy trình quản lý, giảm sai lỗi và tăng mức độ tuân thủ. Bằng cách giảm thiểu các việc vặt của nhân viên, RPA cũng góp phần gắn kết các mối quan hệ trong môi trường làm việc, đồng thời các nhiệm vụ chính sẽ được thực hiện hiệu quả hơn.

Tùy thuộc vào doanh nghiệp, những lợi thế mà RPA đem lại có thể khác nhau. Ở đây sẽ liệt kê một số ví dụ cụ thể về việc áp dụng RPA cho các doanh nghiệp ngành Công Thương.

Quản lý sản phẩm

Trong trường hợp của tập đoàn Everest – đơn vị quản lý hiệu suất quốc tế đã sử dụng RPA để tự động hóa việc phân loại sản phẩm trên quy mô toàn cầu và địa phương, quá trình này trước đây đều được thực hiện bằng tay do đó có tỷ lệ lỗi cao. Sau khi áp dụng RPA, tỷ lệ chính xác của dữ liệu đầu vào được nâng lên tới 98,5% và giảm 80% lượng công việc thủ công tương ứng.

Bán lẻ – Thương mại

Trong thương mại, RPA được sử dụng để xác nhận các cuộc hẹn với khách hàng, lấy thông tin của họ từ các hệ thống CRM và sử dụng thuật toán máy móc tự học để gợi ý những sản phẩm khác hàng có thể sẽ quan tâm. RPA cũng đang trở thành một cuộc cách mạng trong khâu nhận yêu cầu vay nợ và phê duyệt các yêu cầu đó, cắt giảm đáng kể thời gian tương tác và đảm bảo khách hàng nhận được câu trả lời trong thời gian sớm nhất.

Quản lý nhân sự

Doanh nghiệp càng phát triển thì cơ cấu nhân sự càng trở nên phức tạp hơn và cần càng nhiều quy trình để quản lý. Với GPA, các luồng thông tin trở nên dễ dàng để truy xuất hơn, nhờ đó mà các yêu cầu từ nhân viên được xử lý nhanh hơn. Không chỉ vậy, RPA cung cấp một môi trường làm việc chủ động hơn cho các nhà quản lý, giúp họ điều phối nhân lực hiệu quả hơn.

Quản lý hành chính

Công ty RPA Human+ gần đây đã hợp tác với Kingston và hội đồng Sutton ở London để ứng dụng RPA như một phần của chiến lược quản lý kỹ thuật số mới. Bằng phương pháp tiếp cận trên nhiều khía cạnh, Human+ đã triển khai các hoạt động tự động hóa như gửi email thông báo liên quan đến dịch vụ nhà ở, thông báo xuất viện cho người nhà bệnh nhân (bao gồm chuyển tiếp thông tin đến các nhóm chăm sóc tiếp theo) và thu thập các thông tin doanh nghiệp được đăng kí trong khu vực.

Các ví dụ trên cho thấy RPA có thể được sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau, điều hướng luồng thông tin hiệu quả và tiết kiệm đáng kể các nguồn lực, thời gian cho hoạt động sản xuất, thương mại và quản lý.

VietQ

“Lơ mơ” hình ảnh đô thị thông minh?

Đã có 30 địa phương ký biên bản hợp tác với các tập đoàn công nghệ để triển khai xây dựng Đề án đô thị thông minh “smart city” với tổng số vốn đầu tư lên đến hàng nghìn tỷ đồng.

Tuy nhiên, thế nào là một smart city thì Việt Nam vẫn chưa có một bộ tiêu chí thống nhất?

Đô thị thông minh hay Smart City được xem là từ khóa “hot” nhất năm 2019 trong lĩnh vực phát triển đô thị 

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa có ý kiến về việc triển khai dự án xây dựng hệ thống giám sát điều khiển giao thông thông minh tại thành phố Đà Nẵng. Đây là bước đi tiếp theo hướng đến “smart city”, nhưng còn phải đi thêm những bước nào nữa để TP này thực sự là “smart city” thì còn chưa rõ.

Mạnh ai nấy chạy

Nằm trong xu thế cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) thì thành phố hay đô thị thông minh (Smart City) đang là mô hình được các địa phương trong cả nước tích cực hưởng ứng và mạnh tay rót tiền với kỳ vọng sẽ nhanh chóng tạo ra được một sự nhảy vọt về mọi mặt.

Cũng như “cách mạng 4.0”, cụm từ “Smart City hay đô thị thông minh” là một thuật ngữ có nội hàm rất rộng và không chỉ tại Việt Nam mà trên thế giới vẫn chưa thống nhất được một định nghĩa rõ ràng và bao quát.

Theo tìm hiểu của phóng viên, từ điển Bách khoa toàn thư mở tiếng anh (Wikipedia) định nghĩa smartcity là một khu đô thị dựa trên mạng kết nối vạn vật (Internet of Things-IOT) gồm rất nhiều thiết bị để dữ liệu thu thập và dùng chúng để quản lý, điều phối mọi thứ một cách hiệu quả.

Còn theo quan điểm của tác giả James Ellsmoor tại một bài viết trên trang Forbes thì thành phố thông minh là sự kết hợp giữa cơ sở hạ tầng và công nghệ để cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân và tăng cường tương tác của họ với môi trường đô thị.

Khá đồng quan điểm, trang businessinsider định nghĩa Smart City là đô thị sử dụng các thiết bị Internet of Things (IoT) để thu thập và phân tích dữ liệu và sau đó sử dụng dữ liệu này để cải thiện cơ sở hạ tầng, các tiện ích và dịch vụ công cộng…

Những định nghĩa trên đều có phần kế thừa định nghĩa được Liên minh viễn thông thế giới (ITU) đưa ra từ năm 2016 cho rằng đô thị thông minh là đô thị đổi mới sáng tạo, sử dụng công nghệ thông tin và các phương tiện khác để cải thiện chất lượng cuộc sống, hiệu quả quản lý vận hành, cung cấp dịch vụ và mức độ cạnh tranh của đô thị.

Như vậy, Smart City có thể coi là một bước tiến hóa được tạo ra bởi sự cộng hưởng của sự phổ biến rộng rãi các thiết bị thông minh được liên kết với nhau qua mạng kết nối vạn vật – IOT, trí tuệ nhân tạo… trên nền tảng là sự gia tăng nhanh chóng tốc độ truyền dữ liệu từ cáp quang đến mạng di động thế hệ thứ 5 (5G).

Tại Việt Nam, Smart City hay đô thị thông minh vẫn chưa có một khái niệm được chuẩn hóa, các đề án xây dựng đô thị thông minh của mỗi địa phương đều chủ yếu tập trung vào các yếu tố như tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động, số hóa các hạng mục công việc… và quan trọng hơn là “mạnh ai nấy chạy” chưa có một hành lang pháp lý thống nhất cũng như đặt ra lo ngại về một sự đồng bộ khi kết nối từng địa phương vào hệ thống chung của quốc gia.

Về phía đơn vị quản lý, chia sẻ với DĐDN, ông Nguyễn Tường Văn – Cục trưởng Cục Phát triển đô thị, Bộ Xây dựng thừa nhận nhiều địa phương xây dựng kế hoạch phát triển đô thị thông minh nhưng chủ yếu là mang tính chất tự phát theo xu hướng chung của thời đại.

Những “đề bài” đặt ra

Phát triển đô thị thông minh hay Smart City có thể coi là xu thể tất yếu trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Tuy nhiên, thực tiễn đang đặt ra nhiều “đề bài” cho các nhà làm chính sách để có thể triển khai Smart City hiệu quả. 

Vấn đề đặt ra đầu tiên, ông Đỗ Viết Chiến – Tổng Thư ký Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, từng là lãnh đạo quản lý phát triển đô thị cho rằng, Việt Nam hiện chưa xây dựng được một hành lang pháp lý tối ưu để xây dựng, phát triển các đô thị thông minh. Sự tham gia của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân và nước ngoài là rất cần thiết để tận dụng nguồn lực về tài chính và năng lực khoa học công nghệ tuy nhiên cần được điều chỉnh bằng một cơ chế phù hợp. Trong việc cung cấp các dịch vụ liên quan đến công nghệ thông tin cho các địa phương có thể còn nhiều kẽ hở với bài học nhãn tiền là vụ Nhật Cường vừa qua tại Hà Nội.

Bên cạnh đó, sự thống nhất quốc gia trong chiến lược xây dựng đô thị thông minh là rất cần thiết nhằm đảm bảo sự kết nối đồng bộ hệ thống của từng địa phương. Nếu các địa phương “mạnh ai nấy chạy”, mỗi tỉnh thành lại hợp tác với các đơn vị tư vấn khác nhau và áp dụng các hệ thống khác nhau thì sẽ rất khó đảm bảo tính hiệu quả chung.

Vấn đề thứ hai được đặt ra là lo ngại về việc hài hòa quyền cá nhân của người dân để có thể thu thập được đủ dữ liệu lớn (big data) thì cần một hệ thống giám sát khổng lồ ở khắp nơi. Một ví dụ điển hình là Trung Quốc, quốc gia đang rất tham vọng trong việc xây dựng đô thị thông minh đang có khoảng hơn 200 triệu camera giám sát mọi cử chỉ dù là nhỏ nhất của từng người dân. 

Vấn đề thứ ba là sự đồng bộ giữa hạ tầng cứng với trọng tâm là quy hoạch và hạ tầng mềm khi xây dựng đô thị thông minh. Việc thống nhất và tuân thủ quy hoạch là rất cần thiết, chẳng hạn với một đô thị mà quy hoạch xây dựng dễ dàng bị điều chỉnh cục bộ theo lợi ích nhóm thì không có một hệ thống thông minh nào có thể điều tiết được giao thông đảm bảo thông suốt.

“Quan trọng hơn cả, để tạo dựng được thành phố thông minh cần phải đảm bảo xây dựng chính quyền đô thị nhất thể hoá, quản lý từ trên xuống dưới. Đồng thời, phải có quy hoạch đủ tốt, có chương trình hành động cụ thể và phải có một hệ thống cơ chế chính sách huy động đủ lượng vốn để thực hiện nó” – ông Chiến nhấn mạnh.

Diễn Đàn Doanh Nghiệp

Dịch vụ tài chính, bảo hiểm, ngân hàng bị khiếu nại nhiều nhất trong năm 2019

Trong năm 2019, nhóm hàng tài chính, bảo hiểm, ngân hàng có tỷ lệ khiếu nại lớn hơn nhiều lần so với các nhóm hàng hóa, dịch vụ còn lại. Thông tin được thống kê qua tổng đài tiếp nhận của Cục Quản lý cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng.

Năm 2019, tổng đài tư vấn, hỗ trợ người tiêu dùng của Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (thuộc Bộ Công Thương) ghi nhận có 9.295 cuộc gọi đến, trong đó các tổng đài viên của Cục đã tiếp nhận và trả lời 5.186 cuộc gọi, chiếm 55,79%.

Thống kê chi tiết cho thấy, trong số 5.186 cuộc gọi được trả lời, có 1.422 cuộc liên quan đến yêu cầu hỗ trợ giải quyết khiếu nại hoặc phản ánh vi phạm quyền lợi người tiêu dùng. Các cuộc gọi còn lại có nội dung tư vấn những lĩnh vực khác.

Nguồn: Cục CT&BVNTD

Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng cũng cho biết, bảo vệ thông tin của người tiêu dùng chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm hành vi bị khiếu nại khi chiếm 34% tổng số khiếu nại. Trong đó, nội dung khiếu nại chủ yếu tập trung vào việc doanh nghiệp thu thập trái phép thông tin của người tiêu dùng, không ghi nhận yêu cầu chỉnh sửa thông tin của người tiêu dùng, dẫn tới việc tiếp tục sử dụng thông tin vào các mục đích xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng.

Nhóm hành vi có tỷ lệ khiếu nại cao liên quan đến các nội dung về Giao kết hợp đồng chiếm tỷ lệ 20%; khiếu nại liên quan đến hành vi Cung cấp thông tin chiếm 17% tổng số khiếu nại. Nhóm hành vi liên quan đến số lượng, chất lượng, thời gian giao hàng chiếm tỷ lệ cao tiếp theo là 14%. Các hành vi này chủ yếu liên quan đến chất lượng sản phẩm, dịch vụ không đảm bảo, giao hàng chậm, không giao hàng, bị hủy đơn hàng, trong đó, phần lớn giao dịch liên quan của người tiêu dùng được thực hiện thông qua các sàn thương mại điện tử hoặc qua các trang mạng xã hội.

Cũng theo Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, năm 2019, ngành hàng bị khiếu nại nhiều nhất là tài chính, bảo hiểm, ngân hàng khi chiếm 41%. Sau đó là nhóm điện thoại, viễn thông với 19% và nhóm đồ điện tử gia dụng với tỷ lệ 7%.

Nguồn: Cục CT&BVNTD

Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng nhận định: Đây là lần đầu tiên trong giai đoạn cả năm, nhóm hàng tài chính, bảo hiểm, ngân hàng có tỷ lệ khiếu nại lớn hơn nhiều lần so với các nhóm hàng hóa, dịch vụ còn lại. “Chủ thể liên quan trong nhóm hàng này bao gồm không chỉ các ngân hàng, công ty tài chính mà trong đó bắt đầu xuất hiện sự liên quan của nhiều mô hình tư vấn cho vay trực tuyến (cho vay ngang hàng – P2P lending). Các mô hình này đang có sự phát triển mở rộng và gia tăng nhanh chóng cả về số lượng khách hàng và giá trị giải ngân, do vậy kéo theo xu hướng gia tăng khiếu nại trong nhóm dịch vụ này”, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng cho hay.

ICTnews